Chiến lược chiếm lĩnh thị trường Smart Home của các ông lớn

Với xu thế công nghệ Internet of Things (IoT) đang bùng nổ thì các thiết bị trong nhà ngày càng trở nên thông minh (smart devices) do được trang bị khả năng tính toán (computing power), khả năng cảm biến môi trường (sensor), và khả năng kết nối mạng (networking, internet connected). Các thiết bị khi được áp dụng công nghệ IoT thường được gọi là thiết bị thông minh (smart devices).

Thị trường thiết bị thông minh trong gia đình (Smart Home) là thị trường đầy hứa hẹn; theo ước tính của Business Insider, đến năm 2020 sẽ có 13 tỷ thiết được gọi là thiết bị Smart Home. Các thiết bị này rất đa dạng: camera an ninh, thiết bị báo cháy, khóa cửa, nhiệt kế, tủ lạnh, đèn chiếu sáng… Trong một hộ gia đình (ước tính ở thị trường Bắc Mỹ) có khoảng 100 đồ vật có thể áp dụng được công nghệ IoT để trở thành thiết bị thông minh.

Figure 1- Thiết bị thông minh có khả năng tính toán, sensor, và kết nối.

Figure 1- Thiết bị thông minh có khả năng tính toán, sensor, và kết nối.

Tuy tiềm năng như vậy, nhưng đây là thị trường chưa định hình sân chơi từ công nghệ, đến sản phẩm, và thói quen của người tiêu dùng. Ví dụ, hiện nay chưa có một chuẩn chung cho việc kết nối các thiết bị thông minh trong gia đình (smart home networking); Wi-fi, Bluetooth, Z-Wave và Zigbee là các chuẩn kết nối thông dụng mà thiết bị thông minh hiện tại đang sử dụng; mỗi công nghệ có ưu và nhược điểm riêng.

Figure 2 -  Có khoảng 100 đồ dùng có thể IoT hóa trong một hộ gia đình

Figure 2 – Có khoảng 100 đồ dùng có thể IoT hóa trong một hộ gia đình

Tất cả các hãng công nghệ lớn như Goolge, Amazon, Apple, và Samsung đều đang tìm cách chiếm lĩnh thị trường Smart Home này. Đối với những hãng công nghệ lớn thì việc chiếm lĩnh và làm chủ hệ sinh thái của một xu hướng mới là vô cùng quan trọng; việc này có ý nghĩa sống còn với họ. Ví dụ nhãn tiền gần đây là khi xu hướng công nghệ chuyển dịch từ PC/desktop sang hệ sinh thái smartphone (di động), Nokia tuy đã từng là hãng di động hàng đầu thế giới nhưng do không nắm bắt và theo kịp xu hướng smartphone mà giờ đây đã bị xóa sổ. Blackberry là cha đẻ của khái niệm smartphone nhưng do không vào được hệ sinh thái mới mà giờ cũng bị loại khỏi cuộc chơi.

Figure 3 - Các sản phẩm Smart Home

Figure 3 – Các sản phẩm Smart Home.

Về cơ bản thì các ông lớn đều muốn kiểm soát và chi phối hệ sinh thái Smart Home, tuy vậy, mỗi hãng có những động thái và chiến lược khác nhau, chúng ta sẽ xem xét chiến lược (cho tới thời điểm này) của bốn hãng lớn: Google, Amazon, Samsung, và Appe.

Google

Google đầu tư rất nhiều vào các công nghệ liên quan đến lĩnh vực IoT nói chung và smart home nói riêng: Google beacon platform, Brillo & Weave, OnHub Router, Google Cloud IoT… Tuy vậy để đi vào hộ tiêu dùng thì một chiến lược chính của Google là mua lại công ty Nest trong năm 2014. Nest đến giờ có ba sản phẩm chính khá thành công trên thị trường là hệ thống điều hòa thông minh, hệ thống báo cháy, và camera giám sát gia đình. Doanh thu của Nest năm 2015 là 340 triệu USD, tuy công ty mẹ Google tỏ ra thất vọng với kết quả này, nhưng đây vẫn là con số khá lớn chứng tỏ Google (Nest) bán được một số lượng lớn thiết bị và đã đặt được chân vào thị trường này.

Figure 4 - Nest có thiết kế và tinh năng ưu việt so với hệ thống điều hòa cũ.

Figure 4 – Nest có thiết kế và tinh năng ưu việt so với hệ thống điều hòa cũ.

Thiết bị điều hòa thông minh của Nest đã được thị trường đón nhận rất tốt khi ra đời do có thiết kế đẹp mắt, tính năng thông minh tự học được thói quen của người dùng giúp tiết kiệm điện năng đến 15%.

Chiến lược của Google là bán một sản phẩm rất tốt, người dùng nhận thấy lợi ích của sản phẩm rất rõ ràng, sau khi người dùng mua thiết bị này về thì Google biến nó thành bộ điều khiển trung tâm có thể kết nối và tương tác với các thiết bị thông minh khác trong nhà. Google thực hiện việc này qua chương trình Works with Nest, các sản phẩm của bên thứ ba khi có nhãn “Works with Nest” sẽ tương thích với hệ thống Nest của Google. Ví dụ, khi đèn thông minh Belkin Wemo khi dùng chung với sản phẩm của Nest sẽ tự động tắt đèn khi hệ thống thấy không có người ở nhà (các sản phẩm của Nest có cảm biến để biết được có người trong nhà hay không). Gần đây Google tái cơ cấu lại Nest để thúc đẩy mạnh hơn việc phát triển thị trường theo hướng này.

Amazon

Các tiếp cận thị trường của Amazon tương tự như Google (Nest), tức là bán một sản phẩm thông minh trong nhà rất hấp dẫn (killer product) để người dùng mua, sau đó biến thiết bị này thành một bộ điều khiển (hub) cho các thiết bị thông minh khác. Sản phẩm chiếm lĩnh thị trường Smart Home của Amazon là chiếc loa thông minh điều khiển bằng giọng nói (hands-free speaker), Amazon Echo. Điểm thú vị của chiếc loa này là không có phím điều khiển, mà người dùng giao tiếp với loa qua giọng nói; Amazon Echo hiểu được ngôn ngữ tự nhiên với độ chính xác rất cao. Ngoài việc chơi nhạc, Amazon Echo có thể trả lời người dùng các câu hỏi về thời tiết, đọc chuyện, mua hàng (tích hợp với hệ thống thương mại của Amazon)…

Figure 5 - Echo có giao điện tương tác bằng giọng nói.

Figure 5 – Echo có giao điện tương tác bằng giọng nói.

Hệ thống nhận dạng tiếng nói và ngôn ngữ tự nhiên của Amazon rất tốt, phản hồi của người dùng về sản phẩm này luôn đạt 4-5 sao. Tuy không có con số chính thức, nhưng ước tính Amazon bán được khoảng 3 triệu sản phẩm cho tới nay.

Cũng giống như chiến lược của Google, một khi người dùng đặt Amazon Echo trong nhà thì chính thiết bị này sẽ hoạt động như một bộ điều khiển trung tâm (hub) để tương tác với các thiết bị thông minh khác trong gia đình. Amazon mở ra bộ API để lập trình viên (developers) và các nhà phát triển thiết bị khác (OEM) tích hợp vào Echo; Amazon gọi một tính năng tích hợp mới này là “skill”, cho tới nay đã có tới 950 skills được tích hợp vào Amazon Echo. Sản phẩm Amazon Echo này thành công đến mức Google vừa phải nhanh chóng công bố một sản phẩm tương tự gọi là Google Home để cạnh tranh.

Samsung

Samsung cũng rất quan tâm đến thị trường Smart Home, một phần là thị trường thiết bị smartphone đang chững lại, Samsung tuy là nhà sản xuất thiết bị lớn nhưng không làm chủ được hệ sinh thái di động (mobile ecosystem), về phần mềm Samsung phụ thuộc vào Android của Google, về phần cứng các hãng Trung Quốc càng ngày càng cạnh tranh khốc liệt. Samsung tiến vào thị trường Smart Home bằng cách mua lại công ty SmartThings với giá 200 triệu USD (Google mua Nest với giá 3,2 tỷ USD).

Figure 6 - Samsung mua SmartThings để đặt chân vào thị trường nhà thông minh

Figure 6 – Samsung mua SmartThings để đặt chân vào thị trường nhà thông minh.

SmartThings bán một bộ hub điều khiển trung tâm (smart-home controller); thế mạnh của thiết bị này là có thể giao tiếp với rất nhiều các thiết bị thông minh có trên thị trường qua các chuẩn giao tiếp (không dây) khác nhau. SmartThings cũng có một chương trình “Works with SmartThings” để chứng nhận các thiết bị tương thích với hệ thống này. Tuy vậy, cách tiếp cận bằng cách bán một bộ điều khiển trung tâm không được thành công lắm, việc thiếu một “killer product” khiến rất khó thuyết phục người tiêu dùng về lợi ích của hệ thống (hoặc người dùng không thấy nhu cầu đó là thiết yếu).

Trong cuộc chơi này, Samsung có một thế mạnh là họ đã đang sản xuất rất nhiều thiết bị gia dụng (home appliances) có tiếng, Samsung có thể thâm nhập thị trường Smart Home qua các sản phẩm này, ví dụ gần đây họ vừa ra mắt chiếc tủ lạnh thông minh, tuy đang còn mang tính thử nghiệm cao, nhưng đây là một chiến lược rất hứa hẹn.

Apple

Apple bước vào thị trường Smart Home có một lợi thế là có nền tảng di động iPhone, với phiên bản iOS 9, Apple đưa ra chuẩn HomeKit để kết nối các thiết bị thông minh trong nhà với hệ điều hành iOS và điện thoại iPhone. Người dùng có thể dùng hệ thống nhận dạng giọng nói Siri trên iPhone để điều khiển các thiết bị trong nhà; một thành tố quan trọng trong bài toán chiếm lĩnh thị trường Smart Home của Apple đó là Apple TV; thiết bị này sẽ hoạt động như một bộ điều khiển trung tâm để kết nối với các thiết bị khác trong gia đình. Apple đã bán được hơn 25 triệu sản phẩm Apple TV cho tới nay.

7d-9339-1466831963.jpg

Có thể nói sau iPhone và iPad, Apple vẫn chưa đưa ra được một thiết bị nào có tính cách mạng; do vậy Smart Home có thể sẽ là một thị trường Apple mà Apple nhắm tới để đưa ra sản phẩm có tính đột phá.

Kiểm soát hệ sinh thái

Một đặc điểm chung trong chiến lược của các hãng là không chỉ nhắm tới việc tạo doanh thu trước mắt mà về lâu dài phải kiểm soát được hệ sinh thái (ecosystem) của thị trường nhà thông minh . Với nền tảng công nghệ hiện nay thì 2 thành tố quan trọng trong việc xây dựng hệ sinh thái cho nhà thông minh là: smartphone và smart home hub như được minh họa ở hình dưới. Google và Apple có lợi thế nhất định khi làm chủ hai nền tảng chính cho smartphone là Android và iOS. Họ có thể tích hợp thẳng những công nghệ để giúp họ triển khai dễ dàng các sản phẩm và dịch vụ trong thị trường mới này.

Figure 8 - Hai thành tố chính cho hệ sinh thái nhà thông minh: smartphone và smart home hub

Figure 8 – Hai thành tố chính cho hệ sinh thái nhà thông minh: smartphone và smart home hub.

Phần quan trọng còn lại của hệ sinh thái là bộ điểu khiển trung tâm (mart home hub) đều được các hãng muốn kiểm soát hoặc có ảnh hưởng tới. Google và Amazon dùng chiến lược go-to-market bằng cách bán một sản phẩm có chức năng rõ ràng và có tính năng vượt trội để thuyết phục khách hàng, sau đó biến chúng thành hub bằng cách mở API để các thiết bị thông minh khách giao tiếp qua nó. Cả hai công ty đều có thành công nhất định bằng hướng đi này.

Tuy vậy, để tạo ra một “killer product” cho thị trường mới không hề dễ. Samsung mua lại công ty SmartThings và bán cho người tiêu dùng một bộ smart home hub đầy đủ, việc bán một hệ thống chung này có khó khăn là người tiêu dùng không thấy được lợi ích một cách rõ rằng (unclear value proposition) hoặc các nhu cầu mà hệ thống giải quyết không thực sự thiết yếu. Đối với thị trường Việt Nam và đối với FPT là công ty mạnh về dịch vụ thì hướng tiếp cận vào thị trường nhà thông minh có thể rất khác, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thêm trong loạt bài sau.

Bài đăng trên báo Chungta. http://chungta.vn/tin-tuc/cong-nghe/chien-luoc-chiem-linh-thi-truong-smart-home-cua-cac-ong-lon-50098.html

Lợi thế cạnh tranh bền vững

Theo giáo sư Michael Porter, một người rất có ảnh hưởng về lý thuyết chiến lược kinh doanh (business strategy), thì các công ty cần xác định được chiến lược kinh doanh của riêng mình để tạo ra được lợi thế cạnh tranh bền vững (sustainable competitive advantage), lợi thế này có được thường do công ty  tạo ra sự khác biệt với các đối thủ về mặt vị thế trên thị trường và duy trì được điều đó.

Thứ nhất, quản trị hiệu quả (operational effectiveness) không phải là lợi thế cạnh tranh bền vững. Tức là nếu công ty làm cùng một việc so với các đối thủ nhanh hơn, tốt hơn, và rẻ hơn, thì các đối thủ cũng sẽ nhanh chóng học tập những công nghệ mới, phương thức quản lý mới để cạnh tranh lại. Các công ty Nhật Bản đã rất thành công với phương thức này vào những năm 1970s  và 1980s. Nhưng cách này không tạo ra lợi thế bền vững. Việc các công ty trong một thị trường cạnh tranh lẫn nhau bằng tính hiệu quả sẽ dẫn đến việc giảm giá thành sản phẩm và giảm lợi nhuận cho toàn bộ các bên.

Thứ hai, để tạo ra lợi thế bền vững công ty phải có định vị khách biệt so với đối thủ trên thị trường. Ikea, một công ty bán lẻ nội thất toàn cầu, có định vị chiến lược rất rõ ràng. Họ nhắm tới khách hàng trẻ tuổi, những người cần đồ nội thất trẻ trung hiện đại (có gu thẩm mỹ) nhưng giá cả phải chăng. Mọi hoạt động của Ikea đều hướng đến việc tạo ra định vị chiến lược này. Ví dụ, để giảm giá thành sản phẩm, Ikea tạo ra những đồ nội thất được thiết kế modular; khách hàng tự vận chuyển hàng về nhà (đóng gọn trong hộp), và tự lắp ráp theo chỉ dẫn dễ dàng. Các showroom của Ikea thường mở cửa muộn hơn so với các cửa hàng nội thất bình thường, có khu vui chơi cho trẻ con, và có cả hàng ăn; mọi việc này đều nhắm tới phục vụ các bố mẹ trẻ có con nhỏ.

Thứ ba, để duy trì sự khác biệt trong vị thế chiến lược, công ty phải có lựa chọn rõ rằng không thể ôm đồm trong các hoạt động kinh doanh. Bởi nếu không các đối thủ có thể tái định vị hoặc copy ý tưởng nhanh chóng. Một ví dụ điển hình cho việc không thể ôm đồm này là ngành hàng không. Khi các hãng hàng không giá rẻ cạnh tranh mạnh và hút mất khách, các hãng hàng không truyền thống nghĩ rằng có thể mở ra dịch vụ giá rẻ để cạnh tranh lại (đồng thời vẫn duy trì các dịch vụ hàng không cũ). Thoạt nhìn thì thấy chiến lược này rất hấp dẫn, vì các hãng hoàn toàn có thể cung cấp dịch vụ giống như các hãng giá rẻ. Tuy vậy trên thực tế các hãng hàng không truyền thống khi duy trì các dịch vụ (cao cấp) cũ của mình như bữa ăn trên chuyến bay, phòng chờ cho khách VIP, hàng xách tay lên máy bay, etc., thì họ không thể nào cạnh tranh với các hãng giá rẻ một cách hiệu quả. Các hãng hàng không giá rẻ chỉ sử dụng một loại máy bay giống nhau, không cung cấp bữa ăn, bán vé online (không qua đại lý, nên không mất hoa hồng); toàn bộ các hoạt động đó giúp giảm thiểu chi phí.

Thứ tư, các lợi thế cạnh tranh này muốn bền vững phải được củng cố bởi nhiều các hoạt động kinh doanh khách nhau. Nhiều khi chúng ta có quan điểm sai lầm là công ty thành công là do một yếu tố chính (core competency) nào đó, nhưng trên thực tế thì không phải vậy. Ví dụ việc không cung cấp bữa ăn, hạn chế đồ xách tay, không chuyển tiếp chuyến, và dùng một loại máy bay sẽ giúp các hãng hàng không giá rẻ có thể quay vòng sử dụng máy bay liên tục. Việc khai thác được máy bay kín lịch hơn lại giúp giảm giá thành và tăng tính tiện lợi cho khách hàng. Hoặc như việc Ikea thiết kế đồ nột thất kiểu modular sẽ giúp giảm giá thành dịch vụ sau khi bán, do khách hàng tự vận chuyển hàng hóa và lắp đặt. Ngoài ra thiết kế modular hóa lại giúp việc sản xuất đơn giản hơn và có thể out-source cho các đối tác gia công hàng loạt; một bước nữa để giảm giá thành. Việc các hoạt động khác nhau của công ty, tác động qua lại, gia tăng tính cạnh tranh của công ty giúp giảm thiểu khả năng copy ý tưởng của các đối thủ.

Kết luận, trong một nền kinh tế toàn cầu hóa ngày này, rất khó để duy trì sự canh tranh bền vững dựa vào việc quản trị tốt. Công ty phải đề ra được chiến lược định vụ rõ ràng và khác biệt, duy trì được việc đó bởi các hoạt động tương hỗ lẫn nhau. Từ đó sẽ tạo ra giá trị vượt trội cho khách hàng (so với các đối thủ khác), khi đó công ty sẽ có được lợi thế cạnh tranh bền vững và lợi nhuận.

Chiến lược kinh doanh là gì?

Chiến lược (strategy) hay chiến lược kinh doanh (business strategy) là từ được các lãnh đạo nhắc đến rất nhiều ở các diễn đàn kinh doanh. Đưa ra những chiến lược kinh doanh sáng suốt là kỹ năng mặc nhiên các lãnh đạo của doanh nghiệp phải có để đưa doanh nghiệp của mình đến với thành công. Một số chiến lược hay được nhắc đến là “Lấy nông thôn vây thành thị” của Viettel; chiến lược đúng đắn này đã giúp Viettel phát triển vượt qua các đối thủ để thành nhà mạng lớn nhất Việt Nam. Đối với nhà FPT thì có ví dụ chiến lược “Đông Du” vào thị trường Nhật Bản của Fsoft vào năm 2000-2001; đây là mốc có tính bản lề giúp Fsoft tăng trưởng vượt bậc. Thị trường Nhật Bản đến bây giờ vẫn là thị trường lớn nhất của Fsoft.

Chiến lược có tính chất quan trọng sống còn với các doanh nghiệp như vậy, nhưng khi nói đến chiến lược thì mỗi người lại hiểu từ đó với nghĩa khác nhau tùy vào văn cảnh. Chính vì sự quan trọng của chiến lược trong kinh doanh, trong bài này chúng ta cùng nhau tìm hiều một số định nghĩa thông dụng của từ “chiến lược kinh doanh” và cung cấp một số ví dụ minh họa cho các ý nghĩa đó.

Kế hoạch

Chiến lược kinh doanh có thể hiểu như là một kế hoạch (plan) của doanh nghiệp. Một ví dụ điển hình theo ý nghĩa này là chiến lược “Embrace, Extend, and Extinguish” của Microsoft; tạm dịch là “Tham gia, Mở rộng, và Loại trừ”. Đây là chiến lược Microsoft dùng để thâm nhập vào thị trường mà sản phẩm dùng các chuẩn mở (public standards), mở rộng những chuẩn này bằng cách đưa ra các tính năng dựa trên công nghệ đóng (proprietary capabilities),  sau đó dùng những khác biệt này với lợi thế tập khách hàng lớn để giảm sức mạnh của đối thủ. Microsoft đã rất thành công với kế hoạch 3 bước này khi cạnh tranh với Netscape trong cuộc chiến dành quyền kiểm soát thị trường trình duyệt (browsers).

Chiến thuật

Chiến lược có thể được hiểu theo nghĩa là một “chiến thuật” (ploy) để đánh lừa (outwit) đối thủ trên thương trường. Một ví dụ nổi tiếng là việc Boeing tuyên bố về dự án Sonic Cruiser năm 2001 ngay sau khi đối thủ Airbus tuyên bố phát triển A380. Tuy vậy, chỉ ngay năm sau đó, vào tháng 12 năm 2002, Boeing hủy kế hoạch sản xuất Sonic Cruiser và tập trung vào mẫu 787 Dreamliner, là một mẫu máy bay nhỏ và kinh tế hơn để vận hành. Mẫu Dreamliner của Boeing bán chạy hơn hẳn mẫu A380 của Airbus với tỷ lện 4:1. Rất nhiều ngưỡi nghĩ rằng việc Boeing tuyên bố về việc phát triển mẫu máy bay hạng lớn Sonic Cruiser là một chiến thuật để lừa Airbus đầu tư vào dự án A380, trong khi ngầm chuẩn bị cho việc phát triển Dreamliner. Sự thật thế nào thì chúng ta cũng không thể biết được, tuy vậy, đây vẫn là một ví dụ hay được đưa ra khi nói về chiến lược kinh doanh hiêu theo nghĩa là một chiến thuật trên thương trường.

Định vị

Chiến lược kinh doanh cũng thường hay được hiểu theo nghĩa định vị (position) của doanh nghiệp trên thị trường. Định vị đúng đắn, doanh nghiệp sẽ khai thác được thế mạnh của mình, tránh phải cạnh tranh ở mặt yếu, tạo ra giá trị cho khách hàng và tạo khách biệt với các đối thủ. Một ví dụ ở ngay trong FPT có thể liệt vào dạng này là chiến lược định vị Fsoft như là đối tác làm dịch vụ cho các công ty Nhật Bản. Fsoft là một công ty Việt Nam có rất nhiều lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực này: giá nhân công rẻ, nhân lực trẻ và chịu khó học hỏi, không quá chênh lệch về múi giờ địa lý, tương đồng về văn hóa. Tổng hợp những yếu tố này giúp Fsoft có rất nhiều lợi thế trong thị trường dịch vụ công nghệ tại Nhật Bản.

Fsoft gần đây rất thành công trong việc định vị mình là đối tác cho các công ty (phần nhiều là Nhật Bản) khi họ thực hiện chính sách China + 1 (Trung Quốc cộng một). Rất nhiều công ty Nhật Bản muốn mở rộng và chuyển bớt hoạt động kinh doanh của họ  ra khỏi Trung Quốc sang một nước khác để giảm rủi ro, Việt Nam nói chung và Fsoft nói riêng là lựa chọn rất tốt do những lợi thế đặc thù.

Tư duy/Văn Hóa

Chiến lược cũng có thể là tư duy kinh doanh đặc trưng của doanh nghiệp đó; những quyết định về chiến lược kinh doanh được hình thành và phụ thuộc rất nhiều bởi văn hóa của công ty đó. Có thể kể đến chiến lược dùng Thiền trong kinh doanh của kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa. Tại công ty Vo Trong Nghia Architects, mỗi người phải qua một khóa thiền 10 ngày sau đó nếu ở công ty, mọi người đều dành 2 tiếng trong ngày để thiền (7h30-8h30 sáng và từ 5h-6h chiều) và không có ngoại lệ. Ông Nghĩa cho rằng việc thiền định sẽ giúp cho mọi người làm việc tốt hơn; ông đã cho nghỉ việc những người không thể đi thiền kể cả họ có chuyên môn giỏi. Ông Nghĩa có chia sẻ ở hội thảo “TGB Seminar” tại FPT là hiện tại ông không bỏ tiền thuê kiến trúc sử giỏi có tiếng ở nước ngoài (tuy có rất nhiều người xin vào công ty ông) mà tuyển những sinh viên Việt Nam tại những trường bình thường, cho họ học và thực hành Thiền hàng ngày, ông tin chắc chắn rằng Thiền sẽ giúp họ thiết kế ra những sản phẩm tầm cỡ quốc tế.

Như trên có thể thấy danh từ “chiến lược kinh doanh” có rất nhiều nghĩa khác nhau, là thành tố quan trọng trong kinh doanh, chúng ta không thể bỏ qua bất kỳ ý nghĩa nào của từ này. Hi vọng bài viết cung cấp thông tin bổ ích để các anh chị em trong FPT chuẩn bị cho hội nghị chiến lược của nhà F sắp tới.

 

 

 

 

On Business

Why go through the hassle of actually designing and making better products and services, and offering steadily more value to customers and society when the firm could simply position its business so that structural barriers ensured endless above-average profits.

— Denning

On Color

“Black looks good in all kinds of interiors: old interiors, messy interiors, a clean modern interior. It ages really well. It doesn’t look dirty. You don’t see the seams. He told me, Next time, look at a white car and look at a black car. On a white car you see all the joints.” –Sapper

Tương tác bằng giọng nói cho thiết bị IoT

Cùng với việc phát triển các các thế hệ máy tính thì phương thức tương tác giữa người và máy (Human-Computer Interaction, HCI) cũng có những phát minh quan trọng, đóng góp không nhỏ vào việc tăng tính tiện dụng và hiệu quả của máy tính vào công việc và đời sống.

Lịch sử tương tác người máy

Trong vòng 75 năm vừa qua, cứ khoảng một thập niên thì có những phát minh mang tính đột phá trong lĩnh vực này; ví dụ: GUI vào năm 1981, máy tính cầm tay (PalmPilot) vào những năm 90, năm 2007 iPhone đưa ra giao diện bấm chạm (touch). Gần đây nhất là giao diện giọng nói (Voice Interface) bắt đầu được sử dụng rộng rãi sau khi Apple giới thiệu hệ thống Siri trên iPhone.

Figure 1 - Lịch sử tương tác người-máy (1830s- 2015)

Figure 1 – Lịch sử tương tác người-máy (1830s- 2015)

Tại sao bây giờ? 

Thực ra giao diện giọng nói đã được nghiên cứu và phát triển đã lâu, ví dụ trong quảng cáo của Apple năm 1987 đã đưa ra viễn cảnh người và máy có thể tương tác qua giọng nói như hội thoại bình thường. Tuy vậy, công nghệ nhận dạng giọng nói (speech recognition) và công nghệ sử lý ngôn ngữ tự nhiên (Natural Language Processing) không đủ tốt để hiện thực hóa và đưa vào thực tiễn hàng ngày một hệ thống giao diện giọng nói.

Tuy vậy, bắt đầu từ khoảng năm 2010-2011 đã có những đột phá trong các công nghệ giọng nói. Theo lời của Johan Schalkwyk, kỹ sư làm việc tại Google “Ba năm trước, công nghệ của Google chỉ nhận ra được 3 trong 4 từ mà bạn nói ra… bây giờ (2014), ứng dụng của Goolge có thể hiểu được 12 trong số 13 từ”.

Figure 2- Độ chính xác nhận dạng từ trong môi trường ít tiếng ồn (theo Google)

Figure 2- Độ chính xác nhận dạng từ trong môi trường ít tiếng ồn (theo Google)

Có thể nói công nghệ nhận dạng tiếng nói đã bắt đầu đạt ngưỡng đủ tốt để người dùng chấp nhận, không chỉ trên nền tảng của Goolge, mà các hãng công nghệ (và nền tảng của họ) đều đã đạt đươc ngưỡng nhận dạng từ (Word Accuracy Rates) chính xác hơn 90%.

Figure 3- Các công ty có thể định nghĩa về độ chính xác khác nhau

Figure 3- Các công ty có thể định nghĩa về độ chính xác khác nhau

Theo giáo sư Andrew Ng tại trường Standord, một nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới trong lĩnh vực học máy (machine learning, deep learning), thì hai yếu tố chính để việc sử dụng giao diện giọng nói thực sự bùng nổ là hệ thống đạt được độ chính xác trong việc nhân dạng và hiểu ngôn ngữ ở ngưỡng 99%, đồng thời giảm độ trễ (latency) trong việc phản hồi của hệ thống. Các hệ thống giao diện giọng nói đang gần tiến đến ngưỡng này, ví dụ như sản phẩm Amazon Echo, gần đây đã cải thiện được độ trễ từ lúc người dùng ra lệnh cho đến lúc Echo phản hồi từ khoảng 9 giây xuống còn 1,5 giây.

Tương tác giọng nói cho các thiết bị IoT

Giao diện giọng nói (Voice Interface) có thể ứng dụng trong rất nhiều tình huống, tuy vậy, đây là một phương thức rất phù hợp cho các thiết bị IoT, do những yếu tố sau.

Dễ dàng, tiện dụng: Giao diện giọng nói không cần người sử dụng phải bàn phím hay các thiết bị điều khiển cầm tay; phương thức này rất phù hợp để điểu khiển các thiết bị thông minh trong nhà như đèn, TV, quạt…

Chi phí rẻ và gọn nhẹ: Đa số công việc xử lý giọng nói được thực hiện trên hệ thống điện toán đám mây, nên về phía thiết bị chỉ phải trang bị microphone, loa, bộ xử lý cấp thấp. Các linh kiện này ngày càng rẻ do ăn theo dây chuyền sản xuất điện thoại (smartphone supply chain).

Nhanh: Trung bình một người có thể nói 150 từ trong một phút so với gõ được 40 từ qua bàn phím.

Hiểu được văn cảnh: Những tiến bộ gần đây trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) giúp cho hệ thống giao diện giọng nói có thể hiểu được câu hỏi dựa vào văn cảnh tương tác.

FPT chuẩn bị gì cho xu hướng công nghệ này?

Việc sử dụng giao diện giọng nói tăng đột biến trong 2 năm gần đây, theo báo cáo của Baidu thì dịch vụ nhận dạng tiếng Trung của Baidu tăng 4x từ Q2:14, dịch vụ tổng hợp tiếng Trung của họ tăng 26x. Đối với một số ngôn ngữ thì đây là hình thức tương tác ưu việt hơn bàn phím cho việc nhập liệu ngôn ngữ bằng bàn phím hoặc màn hình điện thoại khó khăn hơn nhiều so với các ngôn ngữ dùng bẳng chữ cái Latin.

5-4795-1469500472.png

Tuy có nhiều ưu điểm như trên, để triển khai một hệ thống giao diện giọng nói đòi hỏi nhiều công nghệ liên quan như: công nghệ nhận dạng tiếng nói (Speech Recognition), Công nghệ Tổng hợp Tiếng nói (Text to Speech), Công nghệ Xử lý Ngôn ngữ (Phân tích cú pháp), Trí tuệ nhân tạo (AI), etc. FPT đã và đang đầu tư nghiên cứu vào những lĩnh vực này. Hiện nay, cộng đồng đã có thể sử dụng công nghệ tổng hợp giọng đọc tiếng Việt của Ban Công nghệ tập đoàn quan cổng OpenFPT.vn.

Open FPT là nhắm tới việc thúc đẩy việc chia sẻ, và kết nối các công nghệ và kết quả nghiên cứu của tập đoàn (và các công thành viên) ra ngoài cộng đồng. Cổng dịch vụ công nghệ OpenFPT là một thành tố chính trong chương trình. Thông qua cổng này, các công nghệ trong tập đoàn FPT sẽ được mở ra cho cộng đồng sử dụng dưới dạng API (web services). Các nhà phát triển và cộng đồng có thể khai thác, sáng tạo ra các dịch vụ cho người dùng mà chính FPT cũng không nghĩ tới và làm được. Dù bạn là công ty khởi nghiệp, hay doanh nghiệp, hoặc nhà phát triển độc lập, chúng tôi tin rằng bạn sẽ tìm được những dịch vụ hữu ích từ OpenFPT.

Từ này đến cuối năm 2016, FPT sẽ tiếp tục ra mắt một bộ APIs cho các công nghệ phục vụ cho việc triển khai Giao diện Giọng nói.

Bài đăng trên báo Chungta.

Những ảnh hưởng của IoT tới xã hội

Internet of Things (IoT) là xu hướng công nghệ được các công ty công nghệ hàng đầu thế giới nhắc tới nhiều. IBM có nền tảng và giải pháp IoT trên hệ thốngWatsonBluemix, hệ thống Cloud AWS của Amazon cũng mới ra một bộ giải pháp riêng cho IoT, hệ thống Cloud của Micrsoft cũng có sản phẩm chuyên biệtAzure IoT Hub

Trong bài viết này, ta sẽ tìm hiểu định nghĩa thế nào là IoT, các đặc thù và xu hướng công nghệ dẫn đến IoT, và ảnh hưởng của công nghệ này tới xã hội.

Định nghĩa về Internet of Things 

Thuật ngữ IoT bao hàm nhiều nghĩa tùy vào hoàn cảnh sử dụng và ý đồ của người viết. Tuy vậy, một thiết bị/đồ vật khi được gọi là thiết bị IoT (IoT devices) có những đặc trưng sau:

– Đó là các thiết bị và đồ vật bình thường trong cuộc sống, chúng ta thường không coi chúng là máy tính. Những thiết bị (đồ vật) này có thể là bất cứ thứ gì, ví dụ: tivi, tủ lạnh, máy điều hòa, ô tô… Các thiết bị này nhiều khi đã có các vi điều khiển (microcontroller) và mạch điện tử (như tivi và tủ lạnh, ô tô). Tuy vậy, chúng ta không coi chúng như một máy tính thông thường giống như máy tính để bàn hay laptop.

– Các thiết bị và đồ vật đó khi IoT hóa được bổ sung khả năng tính toán (computational intelligence) từ đó có những tính năng ưu việt. Tủ lạnh thông minh thế hệ mới nhất của Samsung, ngoài việc giúp lưu giữ thức ăn, còn kiểm tra và thông báo cho người dùng khi nào cần phải mua thêm trứng và sữa; hoặc hướng dẫn bạn nấu ăn (qua giọng nói) theo các công thức trên mạng. Để có những tính năng này thì chiếc tủ lạnh được trang bị khả năng tính toán như một máy tính.

Các thiết bị IoT có khả năng kết nối mạng và Internet; khi đó chúng có thể tương tác với nhau, truy cập Internet, và sử dụng các tài nguyên của điện toán đám mây (Cloud). Cũng với ví dụ tủ lạnh thông minh như ở trên, người dùng có thể đi chợ online ngay tại cái tủ lạnh khi thấy thiếu thức ăn. Tủ lạnh thông minh được kết nối Internet sẽ đặt hàng tới các hệ thống bán lẻ như Amazon; sau đó thực phẩm được chuyển tới tận nha gia chủ. Người dùng thậm chí không cần dùng đến tiền mặt vì thẻ tín dụng đã được lưu trong bộ nhớ của tủ lạnh và thanh toán trực tuyến với nhà bán lẻ.

Như vậy, chúng ta có thể thấy một thiết bị/đồ vật được gọi là thiết bị IoT khi nó là một thiết bị chuyên dụng (không phải máy tính nói chung) được trang bị khả năng tính toán để nâng cáo tính năng, và khả năng kết nối mạng như mô tả ở hình sau:

1-5672-1455506926.jpg

Thiết bị IoT

Khi nói đến các thiết bị IoT chúng ta thường thấy nó có những đặc tính:

-Thông minh: Các thiết bị IoT trên thị trường thường hay được gọi là thiết bị thông minh (smart devices). Ví dụ: tủ lạnh thông minh, đèn thông minh, máy giặt thông minh… Các thiết bị giờ được trang bị khả năng tính toán và kết nội mạng sẽ đem lại tính năng ưu việt so với thiết bị truyền thông, và có những tính năng mới mà thiết bị truyền thống không thể có được.

Nest: điều khiển điều hòa thông minh (của Google).

Nest – điều khiển điều hòa thông minh (của Google).

Ví dụ như Nest, thiết bị điều khiển điều hòa thông mình của Google, có khả năng tự học thói quen sử dụng của người dùng, đồng thời kết hợp với thông tin thời tiết, có khả năng tiết kiệm 5% hóa đơn tiền điện cho chủ nhà.

– Cảm biến môi trường: Các thiết bị IoT giờ cũng được trang bị rất nhiều cảm biến (sensors) môi trường khác nhau, chính những thông tin về môi trường xunh quanh này giúp cho thiết bị thông minh hơn. Ví dụ cảm biến chuyển động (motion sensor) có thể truyền thông tin đến hệ thống đèn thông minh để tự động bật tắt khi có người ra vào phòng. Cảm biến mưa sẽ giúp cửa sổ đóng mở theo thời tiết.

– Tương tác với các thiết bị khác: Các thiết bị IoT giờ với khả năng tính toán và kết nối mới có thể tương tác với nhau cục bộ (locally) hoặc qua Internet. Ví dụ, ổ khóa thông minh sẽ đưa thông tin cho hệ thống điểu hòa nhiệt độ về tình trạng đang có người trong căn hộ hay không; từ đó hệ thống điều hòa thông minh có thể điều chỉnh tình trạng tiêu thụ điện để tiết kiệm. Việc các thiết bị tương tác với nhau tạo ra những khả năng mới mà trước đây từng thiết bị không thể làm được.

– Giao diện với điện toán đám mây: Thiết bị IoT hiện tại hoạt động như một cửa ngõ (interface) tới tài nguyên vô tận của điện toán đám mây (Cloud), các tính năng mà người dùng sử dụng không bị giới hạn bởi khả năng của thiết bị nữa. Rất nhiều thiết bị thông minh hiện nay trên thị trường có khả năng điều khiển bằng giọng nói; việc phân tích và hiểu giọng nói của người dùng cần nhiều năng lực tính toán với các thuật toán phức tạm; công việc này giờ được thực hiện ở phía Cloud và trả kết quả lại cho thiết bị qua băng thông rộng (bandwidth).

Ứng dụng khắp mọi nơi: ở nhà, công sở, cá nhân, và công cộng. Apple Watch là điển hình của thiết bị thông minh cá nhân (wearable devices) được bán rộng rãi gần đây. Ứng dụng của công nghệ IoT không chỉ giới hạn cho lĩnh vực nhà thông minh mà chúng ta hay thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ IoT còn được ứng dụng vào các nhà máy xí nghiệpđể nâng cao năng xuất và tối ưu hóa tài nguyên.

Xu hướng công nghệ dẫn tới IoT

Để có được các thiết bị IoT như hiện tại là do hội tụ của nhiều xu hướng công nghệ.

Giá của phần cứng liên tục rẻ đi. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, giá của phần cứng máy tính giảm liên tục trong vào 18 năm qua như theo bảng dưới đây. Một ví dụ gần gũi hơn là năm 1998, chiếc điện thoại Nokia 6160 được bán với giá 900 USD, lúc đó ở Việt Nam là một khoản tiền lớn; năm 2016, giá chiếc điện thoại Nokia 105 chỉ còn 420.000 đồng; bất cứ ai cũng có thể sở hữu.

1-EpK-mYzeNKW6tHIXNT8HTQ_1455507264.png

Kích thước của phần cứng giảm đi rất nhiều. Ngoài việc giá thành giảm, kích thước vật lý của thiết bị (phần cứng) cũng giảm đi rất nhiều. Hiện nay, máy tính Raspberry Pi Zero có kích thước chỉ còn 65 mm x 30 mm x 5 mm, bé hơn cả một tờ 5 USD.

1-Y7xts5ymNK26uyBPIhIaCw_1455507316.png

Khả năng tính toán của máy tính tăng lên nhiều lần. CPU (bộ xử lý trung tâm) của một chiếc iPhone 6, có số lượng transitor nhiều gấp 625 lần chiếc Pentium vào năm 1995 (Intel PC). Hiểu theo một cách thông thường thì thời đại bây giờ, bất cứ ai cũng có một chiếu siêu máy tính (supercomputer) ở ngay trong túi.

Internet truy cập ở khắp mọi nơi. Ở Việt Nam, có thể coi như toàn bộ dân số phủ sóng 3G (tức là truy cập được Internet). Ngay cả tại Trường Sa, nơi hải đảo xa xôi, sóng 3G của Viettel vẫn hoạt động. Trên thế giới, khu vực kém phát triển như Sahara tại Châu Phi thì 20% dân số đã tiếp cận được 3G, và theo báo cáo của Erricson con số này sẽ là hơn 60% vào 2019.

yuyuyu_1455507423.png

Ngoài ra, các chuẩn công nghệ không dây như wifi đã rất thông dụng. Việc này làm giảm giá thành kết nối các thiết bị IoT (trong gia đình cũng như trong công nghiệp).

Giá truy cập băng thông dữ liệu giảm. Ngoài việc tốc độ và độ phủ của băng thông Internet đã liên tục cải thiện, giá thành giảm cũng là một yếu tố giúp khả thi hoá các ứng dụng của công nghệ IoT. Việc hàng nghìn các thiết bị IoT gửi dữ liệu và trao đổi liên tục với hệ thống cơ sở hạ tầng không còn là điều tốn kém nữa.

Ảnh hưởng xã hội

Các thiết bị IoT với những tính năng ưu việt đã giúp đem lại những lợi ích không hề nhỏ đối với cuộc sống. Tuy vậy, việc ứng dụng rộng rãi các thiết bị IoT vào mọi mặt của đời sống cũng đem lại những rủi ro mới.

Các dịch vụ cơ bản hằng ngày của xã hội khi được IoT hóa dẫn đến việc chúng ta bị phụ thuộc quá nhiều vào các hệ thống phức tạp, một lỗi nhỏ trong cả hệ thống này cũng dẫn đến những hậu quả không ngờ. Gần đây, hệ thống điều hòa thông minh Nest bị một lỗi phần mềm khiến thiết bị chết pin nguồn và không hoạt động, trong mùa đông của vùng Bắc Mỹ thì việc hệ thống sưởi không hoạt động là rất nghiêm trọng; ngoài vấn đề sức khỏe của con người, các hệ thống cơ sở hạ tầng như ống nước cũng có thể hỏng khi bị đóng băng. Việc sửa lỗi cho các thiết bị IoT cũng không hề đơn giản, ví dụ như trường hợp của Nest nói trên yêu cầu người dùng phải tháo thiết bị và làm theo nhiều bước phức tạp để nạp lại điện cho thiết bị, nó quá phức tạp với đa số người tiêu dùng.

0-HFoWIGtaDiCmfaz5_1455507577.jpg

Một rủi ro nghiêm trọng khác nữa là rủi ro về bảo mật và an ninh; các thiết bị IoT kết nối là mục tiêu cho các hacker đột nhập và chiếm quyền kiểm soát. Một gia đình ở Mỹ dùng hệ thống IP camera để giám sát trẻ; gia đình này đã rất hoảng sợ khi phát hiện ra hackers đã chiếm quyền kiểm soát của hệ thống này, ngoài việc theo dõi được hình ảnh của gia đình, hackers còn hù dọa đứa trẻ qua giọng nói. Người dùng khi mua những thiết bị IoT thông minh, thường không thể lường trước được những rủi ro như vậy.

Xu hướng công nghệ IoT (Internet of Things) là một xu hướng quan trọng, nó đem lại những thiết bị thông minh và có ảnh hướng tới mọi mặt của đời sống. Thuật ngữ IoT có thể có nhiều nghĩa khác nhau tùy vào tình huống được sử dụng. Tuy vậy, trong bài này chúng ta đưa ra một định nghĩa như thế nào là thiết bị IoT. Công nghệ mới này (IoT) được hình thành do nhiều xu hướng công nghệ khác nhau hội tụ. Áp dụng thiêt bị và công nghệ IoT ngoài việc đem lại những tiện ích và lợi ích rõ rệt, nó cũng mang theo những rủi ro mới về bảo mật, an ninh, quyền riêng tư…

Bài đang trên báo Chúng Ta.

Phát triển sản phẩm theo chiến lược ‘mobile-first’

Tính chất quan trọng của nền tảng mobile đã làm xuất hiện một chiến lược phát triển sản phẩm mới, trong đó, người ta đảo lộn quy trình sản xuất hiện tại và bắt đầu thiết kế, phát triển phiên bản mobile đầu tiên, trước khi tiếp tục phát triển cho các nền tảng khác.

Trong thời đại mobile, smartphone là phương tiện đầu tiên khi mọi người muốn tìm hiểu một thông tin gì đó. Ví dụ: Thời tiết ngày mai mưa hay nắng? Món hàng này mua ở đâu thì rẻ nhất? Tình trạng dự án ra sao rồi? Smartphone đã trở thành vật bất ly thân với rất nhiều người, và người ta dù ở vai trò là người tiêu dùng, hay là nhân viên của một công ty, đều kỳ vọng tìm được thông tin họ muốn qua chiếc điện thoại của mình. Tuy vậy, với rất nhiều sản phẩm/dịch vụ online (digital products/services) thì phiên bản mobile lại luôn được thiết kế và thực hiện sau khi phiên bản web đã hoàn thành.

Chính vì tính chất quan trọng của nền tảng mobile, gần đây xuất hiện một chiến lược phát triển sản phẩm mới gọi là “mobile-first”. Tức là, chúng ta đảo lộn lại quy trình sản xuất hiện tại và bắt đầu thiết kế và phát triển phiên bản mobile đầu tiên, sau đó mới tiếp tục phát triển cho các nền tảng khác như desktop.

Các công ty nên phát triển những ứng dụng/dịch vụ của mình theo chiến lược “mobile-first” này vì mấy lý do. Thứ nhất là nền tảng mobile đang phát triển rất bùng nổ. Nếu một doanh nghiệp không có chiến lược cho nền tảng này, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó không có chiến lược tăng trưởng. Thứ hai là, áp dụng quy trình “mobile-first” khi phát triển sản phẩm/dịch vụ sẽ cho ra sản phẩm chất lượng tốt hơn. Cuối cùng, mobile là nền tảng ưu việt hơn hẳn nền tảng web.

Mobile đã trở thành nền tảng công nghệ lớn nhất mọi thời đại

Công nghệ phát triển rất nhanh và liên tục thay đổi, cứ 10 năm một chúng ta lại chuyển đổi sang một nền tảng mới. Ở thập niên 60 của thế kỷ trước, chúng ta dùng nền tảng công nghệ máy chủ (mainframe), sang thập niên 70 là thời đại của minicomputers, thập niên 90 là thời đại của máy tính cá nhân (PC), thập niên 2000 là thời đại Internet (trên desktop), và hiện nay là thời của mobile (hay nói chính xác hơn là mobile Internet).

Với mỗi chu kỳ công nghệ mới, trung bình sẽ tạo ra số lượng thiết bị gấp 10 lần nền tảng cũ. Ước tính, chúng ta sẽ có hơn 10 tỷ (10B+) thiết bị (mobile) được kết nối Internet. Mobile đã trở thành nền tảng công nghệ lớn nhất trong lịch sử loài người.


Phát triển phiên bản mobile trước tiên sẽ giúp tạo ra sản phẩm tốt hơn
Điều này được phản ánh qua thực tế, doanh thu (revenue) đến từ kênh di động (mobile channel) đã trở thành nguồn thu chính của các hãng công nghệ hàng đầu. Facebook trong báo cáo tài chính quý 1/2015 thông báo rằng, 70% của doanh thu 3,54 tỷ USD đến từ mobile. Google cũng thông báo số lượng tìm kiếm trên mobile giờ đã vượt qua web. Việc không đầu tư đúng mức cho nền tảng mobile sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp bị tụt hậu. Ví dụ điển hình nhất là Microsoft, theo dữ liệu của International Data Corporation (IDC), Windows Phone giờ chỉ chiếm 2,8% trong tổng số đơn vị sản xuất của quý 4/2014.

Thiết bị di động với hạn chế là kích thước màn hình nhỏ tạo ra động lực cho đội ngũ phát triển sản phẩm tập trung vào nhưng dữ liệu (data) và chức năng (functions/actions) quan trọng nhất. Khi diện tích bề mặt nhỏ, thì lượng thông tin có thể trình bày trên màn hình cùng một thời điểm sẽ bị giới hạn. Bởi vậy, thông tin (trên thiết bị di động) phải được trình bày tuần tự (sequentially). Điều này khác với giao diện desktop thông thường, khi các lựa chọn khác nhau thường được bày ra hết trên diện tích màn hình rộng rãi.

Với công nghệ màn hình hiện tại, mật độ điểm ảnh được tăng lên đáng kể, điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng hiển thị hình ảnh là chính. Về diện tích vật lý của màn hình tuy có tăng nhưng sẽ không đáng kể; và đối với thiết bị di động chúng ta luôn gặp giới hạn về số lượng thông tin có thể trình bày vào cùng một màn hình.

Lấy ví dụ từ trang nghe nhạc trực tuyến ở Việt Nam để minh họa, dưới đây là sự khác biệt giữa giao diện mobile và giao diện desktop web của Zing MP3.

Giao diện trên desktop

Giao diện trên desktop web.

Giao diện trên mobile.

Giao diện trên mobile.

Phiên bản di động tâp trung vào một tác vụ chính (chơi nhạc), trong khi đó phiên bản web có rất nhiều tính năng khác nhau được hiện ra cùng một màn hình. Điều đó không có hàm ý là phiên bản web được thiết kế tồi, mà bài học ở đây là thiết kế trên di động ép ta phải tập trung vào những nội dung và tác vụ cơ bản nhất. Khi chúng ta xây dựng và thiết kế một ứng dụng hoặc dịch vụ trên nền di động trước, điều đó sẽ giúp ta cho ra sản phẩm tốt hơn.

Smartphone là nền tảng Internet ưu việt

Mọi người thường hay nghĩ phiên bản di động có giới hạn so với phiên bảng desktop web, và trên desktop web mới có đầy đủ tính năng. Tuy vậy, nhìn nhận một cách khác thì dùng Internet trên di động ưu việt hơn hẳn trên nền desktop web. Trên PC, Internet đồng nghĩa với trình duyệt (browser), chuột và bàn phím; trên mobile, mô hình tương tác phong phú hơn nhiều: iBeacons, push notifications, Touch ID, cameras, customer keyboards…. Smartphone cũng có nhiều thông tin dữ liệu về bạn hơn hẳn nền tảng web: Smartphone biết được bạn của người dùng là ai (contacts), người dùng đang đi bộ hay chạy, ảnh của người dùng, vị trí của người dùng (GPS)…

Chính vì những sự ưu việt đó, nên tảng mobile tạo ra những ứng dụng mà web không thể có. Ví dụ, Yelp, dịch vụ review online, đưa ra ứng dụng Yelp Monocle: “Ứng dụng sử dụng thông tin từ smartphone GPS và la bàn (compass) để hiển thị thông tin Augmented Reality về các quán ăn, nhà hàng rất trực quan”.

Chính vì nền tảng di động đã trở thành điện toán lớn nhất trong lịch sử loài người, smartphone đã trở thành vật bất ly thân gắn liền với đại đa số mọi người, ngoài ra việc phát triển ứng dụng trên mobile trước cũng giúp cho ra sản phẩm tốt hơn, thậm chí nền tảng mobile còn giúp đưa ra những ứng dụng mà nền tảng web không thể có; do vậy các doanh nghiệp cần phải thay đổi tư duy về mobile và áp dụng chiến lược phát triển “mobile first”. Điều này không chỉ còn là lý thuyết mà đã được các tập đoàn lớn áp dụng thành công cho cả các sản phẩm đại chúng (consumer-facing products) và cả các ứng dụng cho doanh nghiệp (business applications).

Bài được đăng trên báo Chungta.

On Business

The product or service is the mean by which the company or organisation generates value and meets the needs of consumers, and by which it maintains lasting and profitable relationships with its customers.

To do business is to serve customers.