Tương tác bằng giọng nói cho thiết bị IoT

Cùng với việc phát triển các các thế hệ máy tính thì phương thức tương tác giữa người và máy (Human-Computer Interaction, HCI) cũng có những phát minh quan trọng, đóng góp không nhỏ vào việc tăng tính tiện dụng và hiệu quả của máy tính vào công việc và đời sống.

Lịch sử tương tác người máy

Trong vòng 75 năm vừa qua, cứ khoảng một thập niên thì có những phát minh mang tính đột phá trong lĩnh vực này; ví dụ: GUI vào năm 1981, máy tính cầm tay (PalmPilot) vào những năm 90, năm 2007 iPhone đưa ra giao diện bấm chạm (touch). Gần đây nhất là giao diện giọng nói (Voice Interface) bắt đầu được sử dụng rộng rãi sau khi Apple giới thiệu hệ thống Siri trên iPhone.

Figure 1 - Lịch sử tương tác người-máy (1830s- 2015)

Figure 1 – Lịch sử tương tác người-máy (1830s- 2015)

Tại sao bây giờ? 

Thực ra giao diện giọng nói đã được nghiên cứu và phát triển đã lâu, ví dụ trong quảng cáo của Apple năm 1987 đã đưa ra viễn cảnh người và máy có thể tương tác qua giọng nói như hội thoại bình thường. Tuy vậy, công nghệ nhận dạng giọng nói (speech recognition) và công nghệ sử lý ngôn ngữ tự nhiên (Natural Language Processing) không đủ tốt để hiện thực hóa và đưa vào thực tiễn hàng ngày một hệ thống giao diện giọng nói.

Tuy vậy, bắt đầu từ khoảng năm 2010-2011 đã có những đột phá trong các công nghệ giọng nói. Theo lời của Johan Schalkwyk, kỹ sư làm việc tại Google “Ba năm trước, công nghệ của Google chỉ nhận ra được 3 trong 4 từ mà bạn nói ra… bây giờ (2014), ứng dụng của Goolge có thể hiểu được 12 trong số 13 từ”.

Figure 2- Độ chính xác nhận dạng từ trong môi trường ít tiếng ồn (theo Google)

Figure 2- Độ chính xác nhận dạng từ trong môi trường ít tiếng ồn (theo Google)

Có thể nói công nghệ nhận dạng tiếng nói đã bắt đầu đạt ngưỡng đủ tốt để người dùng chấp nhận, không chỉ trên nền tảng của Goolge, mà các hãng công nghệ (và nền tảng của họ) đều đã đạt đươc ngưỡng nhận dạng từ (Word Accuracy Rates) chính xác hơn 90%.

Figure 3- Các công ty có thể định nghĩa về độ chính xác khác nhau

Figure 3- Các công ty có thể định nghĩa về độ chính xác khác nhau

Theo giáo sư Andrew Ng tại trường Standord, một nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới trong lĩnh vực học máy (machine learning, deep learning), thì hai yếu tố chính để việc sử dụng giao diện giọng nói thực sự bùng nổ là hệ thống đạt được độ chính xác trong việc nhân dạng và hiểu ngôn ngữ ở ngưỡng 99%, đồng thời giảm độ trễ (latency) trong việc phản hồi của hệ thống. Các hệ thống giao diện giọng nói đang gần tiến đến ngưỡng này, ví dụ như sản phẩm Amazon Echo, gần đây đã cải thiện được độ trễ từ lúc người dùng ra lệnh cho đến lúc Echo phản hồi từ khoảng 9 giây xuống còn 1,5 giây.

Tương tác giọng nói cho các thiết bị IoT

Giao diện giọng nói (Voice Interface) có thể ứng dụng trong rất nhiều tình huống, tuy vậy, đây là một phương thức rất phù hợp cho các thiết bị IoT, do những yếu tố sau.

Dễ dàng, tiện dụng: Giao diện giọng nói không cần người sử dụng phải bàn phím hay các thiết bị điều khiển cầm tay; phương thức này rất phù hợp để điểu khiển các thiết bị thông minh trong nhà như đèn, TV, quạt…

Chi phí rẻ và gọn nhẹ: Đa số công việc xử lý giọng nói được thực hiện trên hệ thống điện toán đám mây, nên về phía thiết bị chỉ phải trang bị microphone, loa, bộ xử lý cấp thấp. Các linh kiện này ngày càng rẻ do ăn theo dây chuyền sản xuất điện thoại (smartphone supply chain).

Nhanh: Trung bình một người có thể nói 150 từ trong một phút so với gõ được 40 từ qua bàn phím.

Hiểu được văn cảnh: Những tiến bộ gần đây trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) giúp cho hệ thống giao diện giọng nói có thể hiểu được câu hỏi dựa vào văn cảnh tương tác.

FPT chuẩn bị gì cho xu hướng công nghệ này?

Việc sử dụng giao diện giọng nói tăng đột biến trong 2 năm gần đây, theo báo cáo của Baidu thì dịch vụ nhận dạng tiếng Trung của Baidu tăng 4x từ Q2:14, dịch vụ tổng hợp tiếng Trung của họ tăng 26x. Đối với một số ngôn ngữ thì đây là hình thức tương tác ưu việt hơn bàn phím cho việc nhập liệu ngôn ngữ bằng bàn phím hoặc màn hình điện thoại khó khăn hơn nhiều so với các ngôn ngữ dùng bẳng chữ cái Latin.

5-4795-1469500472.png

Tuy có nhiều ưu điểm như trên, để triển khai một hệ thống giao diện giọng nói đòi hỏi nhiều công nghệ liên quan như: công nghệ nhận dạng tiếng nói (Speech Recognition), Công nghệ Tổng hợp Tiếng nói (Text to Speech), Công nghệ Xử lý Ngôn ngữ (Phân tích cú pháp), Trí tuệ nhân tạo (AI), etc. FPT đã và đang đầu tư nghiên cứu vào những lĩnh vực này. Hiện nay, cộng đồng đã có thể sử dụng công nghệ tổng hợp giọng đọc tiếng Việt của Ban Công nghệ tập đoàn quan cổng OpenFPT.vn.

Open FPT là nhắm tới việc thúc đẩy việc chia sẻ, và kết nối các công nghệ và kết quả nghiên cứu của tập đoàn (và các công thành viên) ra ngoài cộng đồng. Cổng dịch vụ công nghệ OpenFPT là một thành tố chính trong chương trình. Thông qua cổng này, các công nghệ trong tập đoàn FPT sẽ được mở ra cho cộng đồng sử dụng dưới dạng API (web services). Các nhà phát triển và cộng đồng có thể khai thác, sáng tạo ra các dịch vụ cho người dùng mà chính FPT cũng không nghĩ tới và làm được. Dù bạn là công ty khởi nghiệp, hay doanh nghiệp, hoặc nhà phát triển độc lập, chúng tôi tin rằng bạn sẽ tìm được những dịch vụ hữu ích từ OpenFPT.

Từ này đến cuối năm 2016, FPT sẽ tiếp tục ra mắt một bộ APIs cho các công nghệ phục vụ cho việc triển khai Giao diện Giọng nói.

Bài đăng trên báo Chungta.

Những ảnh hưởng của IoT tới xã hội

Internet of Things (IoT) là xu hướng công nghệ được các công ty công nghệ hàng đầu thế giới nhắc tới nhiều. IBM có nền tảng và giải pháp IoT trên hệ thốngWatsonBluemix, hệ thống Cloud AWS của Amazon cũng mới ra một bộ giải pháp riêng cho IoT, hệ thống Cloud của Micrsoft cũng có sản phẩm chuyên biệtAzure IoT Hub

Trong bài viết này, ta sẽ tìm hiểu định nghĩa thế nào là IoT, các đặc thù và xu hướng công nghệ dẫn đến IoT, và ảnh hưởng của công nghệ này tới xã hội.

Định nghĩa về Internet of Things 

Thuật ngữ IoT bao hàm nhiều nghĩa tùy vào hoàn cảnh sử dụng và ý đồ của người viết. Tuy vậy, một thiết bị/đồ vật khi được gọi là thiết bị IoT (IoT devices) có những đặc trưng sau:

– Đó là các thiết bị và đồ vật bình thường trong cuộc sống, chúng ta thường không coi chúng là máy tính. Những thiết bị (đồ vật) này có thể là bất cứ thứ gì, ví dụ: tivi, tủ lạnh, máy điều hòa, ô tô… Các thiết bị này nhiều khi đã có các vi điều khiển (microcontroller) và mạch điện tử (như tivi và tủ lạnh, ô tô). Tuy vậy, chúng ta không coi chúng như một máy tính thông thường giống như máy tính để bàn hay laptop.

– Các thiết bị và đồ vật đó khi IoT hóa được bổ sung khả năng tính toán (computational intelligence) từ đó có những tính năng ưu việt. Tủ lạnh thông minh thế hệ mới nhất của Samsung, ngoài việc giúp lưu giữ thức ăn, còn kiểm tra và thông báo cho người dùng khi nào cần phải mua thêm trứng và sữa; hoặc hướng dẫn bạn nấu ăn (qua giọng nói) theo các công thức trên mạng. Để có những tính năng này thì chiếc tủ lạnh được trang bị khả năng tính toán như một máy tính.

Các thiết bị IoT có khả năng kết nối mạng và Internet; khi đó chúng có thể tương tác với nhau, truy cập Internet, và sử dụng các tài nguyên của điện toán đám mây (Cloud). Cũng với ví dụ tủ lạnh thông minh như ở trên, người dùng có thể đi chợ online ngay tại cái tủ lạnh khi thấy thiếu thức ăn. Tủ lạnh thông minh được kết nối Internet sẽ đặt hàng tới các hệ thống bán lẻ như Amazon; sau đó thực phẩm được chuyển tới tận nha gia chủ. Người dùng thậm chí không cần dùng đến tiền mặt vì thẻ tín dụng đã được lưu trong bộ nhớ của tủ lạnh và thanh toán trực tuyến với nhà bán lẻ.

Như vậy, chúng ta có thể thấy một thiết bị/đồ vật được gọi là thiết bị IoT khi nó là một thiết bị chuyên dụng (không phải máy tính nói chung) được trang bị khả năng tính toán để nâng cáo tính năng, và khả năng kết nối mạng như mô tả ở hình sau:

1-5672-1455506926.jpg

Thiết bị IoT

Khi nói đến các thiết bị IoT chúng ta thường thấy nó có những đặc tính:

-Thông minh: Các thiết bị IoT trên thị trường thường hay được gọi là thiết bị thông minh (smart devices). Ví dụ: tủ lạnh thông minh, đèn thông minh, máy giặt thông minh… Các thiết bị giờ được trang bị khả năng tính toán và kết nội mạng sẽ đem lại tính năng ưu việt so với thiết bị truyền thông, và có những tính năng mới mà thiết bị truyền thống không thể có được.

Nest: điều khiển điều hòa thông minh (của Google).

Nest – điều khiển điều hòa thông minh (của Google).

Ví dụ như Nest, thiết bị điều khiển điều hòa thông mình của Google, có khả năng tự học thói quen sử dụng của người dùng, đồng thời kết hợp với thông tin thời tiết, có khả năng tiết kiệm 5% hóa đơn tiền điện cho chủ nhà.

– Cảm biến môi trường: Các thiết bị IoT giờ cũng được trang bị rất nhiều cảm biến (sensors) môi trường khác nhau, chính những thông tin về môi trường xunh quanh này giúp cho thiết bị thông minh hơn. Ví dụ cảm biến chuyển động (motion sensor) có thể truyền thông tin đến hệ thống đèn thông minh để tự động bật tắt khi có người ra vào phòng. Cảm biến mưa sẽ giúp cửa sổ đóng mở theo thời tiết.

– Tương tác với các thiết bị khác: Các thiết bị IoT giờ với khả năng tính toán và kết nối mới có thể tương tác với nhau cục bộ (locally) hoặc qua Internet. Ví dụ, ổ khóa thông minh sẽ đưa thông tin cho hệ thống điểu hòa nhiệt độ về tình trạng đang có người trong căn hộ hay không; từ đó hệ thống điều hòa thông minh có thể điều chỉnh tình trạng tiêu thụ điện để tiết kiệm. Việc các thiết bị tương tác với nhau tạo ra những khả năng mới mà trước đây từng thiết bị không thể làm được.

– Giao diện với điện toán đám mây: Thiết bị IoT hiện tại hoạt động như một cửa ngõ (interface) tới tài nguyên vô tận của điện toán đám mây (Cloud), các tính năng mà người dùng sử dụng không bị giới hạn bởi khả năng của thiết bị nữa. Rất nhiều thiết bị thông minh hiện nay trên thị trường có khả năng điều khiển bằng giọng nói; việc phân tích và hiểu giọng nói của người dùng cần nhiều năng lực tính toán với các thuật toán phức tạm; công việc này giờ được thực hiện ở phía Cloud và trả kết quả lại cho thiết bị qua băng thông rộng (bandwidth).

Ứng dụng khắp mọi nơi: ở nhà, công sở, cá nhân, và công cộng. Apple Watch là điển hình của thiết bị thông minh cá nhân (wearable devices) được bán rộng rãi gần đây. Ứng dụng của công nghệ IoT không chỉ giới hạn cho lĩnh vực nhà thông minh mà chúng ta hay thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ IoT còn được ứng dụng vào các nhà máy xí nghiệpđể nâng cao năng xuất và tối ưu hóa tài nguyên.

Xu hướng công nghệ dẫn tới IoT

Để có được các thiết bị IoT như hiện tại là do hội tụ của nhiều xu hướng công nghệ.

Giá của phần cứng liên tục rẻ đi. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, giá của phần cứng máy tính giảm liên tục trong vào 18 năm qua như theo bảng dưới đây. Một ví dụ gần gũi hơn là năm 1998, chiếc điện thoại Nokia 6160 được bán với giá 900 USD, lúc đó ở Việt Nam là một khoản tiền lớn; năm 2016, giá chiếc điện thoại Nokia 105 chỉ còn 420.000 đồng; bất cứ ai cũng có thể sở hữu.

1-EpK-mYzeNKW6tHIXNT8HTQ_1455507264.png

Kích thước của phần cứng giảm đi rất nhiều. Ngoài việc giá thành giảm, kích thước vật lý của thiết bị (phần cứng) cũng giảm đi rất nhiều. Hiện nay, máy tính Raspberry Pi Zero có kích thước chỉ còn 65 mm x 30 mm x 5 mm, bé hơn cả một tờ 5 USD.

1-Y7xts5ymNK26uyBPIhIaCw_1455507316.png

Khả năng tính toán của máy tính tăng lên nhiều lần. CPU (bộ xử lý trung tâm) của một chiếc iPhone 6, có số lượng transitor nhiều gấp 625 lần chiếc Pentium vào năm 1995 (Intel PC). Hiểu theo một cách thông thường thì thời đại bây giờ, bất cứ ai cũng có một chiếu siêu máy tính (supercomputer) ở ngay trong túi.

Internet truy cập ở khắp mọi nơi. Ở Việt Nam, có thể coi như toàn bộ dân số phủ sóng 3G (tức là truy cập được Internet). Ngay cả tại Trường Sa, nơi hải đảo xa xôi, sóng 3G của Viettel vẫn hoạt động. Trên thế giới, khu vực kém phát triển như Sahara tại Châu Phi thì 20% dân số đã tiếp cận được 3G, và theo báo cáo của Erricson con số này sẽ là hơn 60% vào 2019.

yuyuyu_1455507423.png

Ngoài ra, các chuẩn công nghệ không dây như wifi đã rất thông dụng. Việc này làm giảm giá thành kết nối các thiết bị IoT (trong gia đình cũng như trong công nghiệp).

Giá truy cập băng thông dữ liệu giảm. Ngoài việc tốc độ và độ phủ của băng thông Internet đã liên tục cải thiện, giá thành giảm cũng là một yếu tố giúp khả thi hoá các ứng dụng của công nghệ IoT. Việc hàng nghìn các thiết bị IoT gửi dữ liệu và trao đổi liên tục với hệ thống cơ sở hạ tầng không còn là điều tốn kém nữa.

Ảnh hưởng xã hội

Các thiết bị IoT với những tính năng ưu việt đã giúp đem lại những lợi ích không hề nhỏ đối với cuộc sống. Tuy vậy, việc ứng dụng rộng rãi các thiết bị IoT vào mọi mặt của đời sống cũng đem lại những rủi ro mới.

Các dịch vụ cơ bản hằng ngày của xã hội khi được IoT hóa dẫn đến việc chúng ta bị phụ thuộc quá nhiều vào các hệ thống phức tạp, một lỗi nhỏ trong cả hệ thống này cũng dẫn đến những hậu quả không ngờ. Gần đây, hệ thống điều hòa thông minh Nest bị một lỗi phần mềm khiến thiết bị chết pin nguồn và không hoạt động, trong mùa đông của vùng Bắc Mỹ thì việc hệ thống sưởi không hoạt động là rất nghiêm trọng; ngoài vấn đề sức khỏe của con người, các hệ thống cơ sở hạ tầng như ống nước cũng có thể hỏng khi bị đóng băng. Việc sửa lỗi cho các thiết bị IoT cũng không hề đơn giản, ví dụ như trường hợp của Nest nói trên yêu cầu người dùng phải tháo thiết bị và làm theo nhiều bước phức tạp để nạp lại điện cho thiết bị, nó quá phức tạp với đa số người tiêu dùng.

0-HFoWIGtaDiCmfaz5_1455507577.jpg

Một rủi ro nghiêm trọng khác nữa là rủi ro về bảo mật và an ninh; các thiết bị IoT kết nối là mục tiêu cho các hacker đột nhập và chiếm quyền kiểm soát. Một gia đình ở Mỹ dùng hệ thống IP camera để giám sát trẻ; gia đình này đã rất hoảng sợ khi phát hiện ra hackers đã chiếm quyền kiểm soát của hệ thống này, ngoài việc theo dõi được hình ảnh của gia đình, hackers còn hù dọa đứa trẻ qua giọng nói. Người dùng khi mua những thiết bị IoT thông minh, thường không thể lường trước được những rủi ro như vậy.

Xu hướng công nghệ IoT (Internet of Things) là một xu hướng quan trọng, nó đem lại những thiết bị thông minh và có ảnh hướng tới mọi mặt của đời sống. Thuật ngữ IoT có thể có nhiều nghĩa khác nhau tùy vào tình huống được sử dụng. Tuy vậy, trong bài này chúng ta đưa ra một định nghĩa như thế nào là thiết bị IoT. Công nghệ mới này (IoT) được hình thành do nhiều xu hướng công nghệ khác nhau hội tụ. Áp dụng thiêt bị và công nghệ IoT ngoài việc đem lại những tiện ích và lợi ích rõ rệt, nó cũng mang theo những rủi ro mới về bảo mật, an ninh, quyền riêng tư…

Bài đang trên báo Chúng Ta.

Phát triển sản phẩm theo chiến lược ‘mobile-first’

Tính chất quan trọng của nền tảng mobile đã làm xuất hiện một chiến lược phát triển sản phẩm mới, trong đó, người ta đảo lộn quy trình sản xuất hiện tại và bắt đầu thiết kế, phát triển phiên bản mobile đầu tiên, trước khi tiếp tục phát triển cho các nền tảng khác.

Trong thời đại mobile, smartphone là phương tiện đầu tiên khi mọi người muốn tìm hiểu một thông tin gì đó. Ví dụ: Thời tiết ngày mai mưa hay nắng? Món hàng này mua ở đâu thì rẻ nhất? Tình trạng dự án ra sao rồi? Smartphone đã trở thành vật bất ly thân với rất nhiều người, và người ta dù ở vai trò là người tiêu dùng, hay là nhân viên của một công ty, đều kỳ vọng tìm được thông tin họ muốn qua chiếc điện thoại của mình. Tuy vậy, với rất nhiều sản phẩm/dịch vụ online (digital products/services) thì phiên bản mobile lại luôn được thiết kế và thực hiện sau khi phiên bản web đã hoàn thành.

Chính vì tính chất quan trọng của nền tảng mobile, gần đây xuất hiện một chiến lược phát triển sản phẩm mới gọi là “mobile-first”. Tức là, chúng ta đảo lộn lại quy trình sản xuất hiện tại và bắt đầu thiết kế và phát triển phiên bản mobile đầu tiên, sau đó mới tiếp tục phát triển cho các nền tảng khác như desktop.

Các công ty nên phát triển những ứng dụng/dịch vụ của mình theo chiến lược “mobile-first” này vì mấy lý do. Thứ nhất là nền tảng mobile đang phát triển rất bùng nổ. Nếu một doanh nghiệp không có chiến lược cho nền tảng này, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó không có chiến lược tăng trưởng. Thứ hai là, áp dụng quy trình “mobile-first” khi phát triển sản phẩm/dịch vụ sẽ cho ra sản phẩm chất lượng tốt hơn. Cuối cùng, mobile là nền tảng ưu việt hơn hẳn nền tảng web.

Mobile đã trở thành nền tảng công nghệ lớn nhất mọi thời đại

Công nghệ phát triển rất nhanh và liên tục thay đổi, cứ 10 năm một chúng ta lại chuyển đổi sang một nền tảng mới. Ở thập niên 60 của thế kỷ trước, chúng ta dùng nền tảng công nghệ máy chủ (mainframe), sang thập niên 70 là thời đại của minicomputers, thập niên 90 là thời đại của máy tính cá nhân (PC), thập niên 2000 là thời đại Internet (trên desktop), và hiện nay là thời của mobile (hay nói chính xác hơn là mobile Internet).

Với mỗi chu kỳ công nghệ mới, trung bình sẽ tạo ra số lượng thiết bị gấp 10 lần nền tảng cũ. Ước tính, chúng ta sẽ có hơn 10 tỷ (10B+) thiết bị (mobile) được kết nối Internet. Mobile đã trở thành nền tảng công nghệ lớn nhất trong lịch sử loài người.


Phát triển phiên bản mobile trước tiên sẽ giúp tạo ra sản phẩm tốt hơn
Điều này được phản ánh qua thực tế, doanh thu (revenue) đến từ kênh di động (mobile channel) đã trở thành nguồn thu chính của các hãng công nghệ hàng đầu. Facebook trong báo cáo tài chính quý 1/2015 thông báo rằng, 70% của doanh thu 3,54 tỷ USD đến từ mobile. Google cũng thông báo số lượng tìm kiếm trên mobile giờ đã vượt qua web. Việc không đầu tư đúng mức cho nền tảng mobile sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp bị tụt hậu. Ví dụ điển hình nhất là Microsoft, theo dữ liệu của International Data Corporation (IDC), Windows Phone giờ chỉ chiếm 2,8% trong tổng số đơn vị sản xuất của quý 4/2014.

Thiết bị di động với hạn chế là kích thước màn hình nhỏ tạo ra động lực cho đội ngũ phát triển sản phẩm tập trung vào nhưng dữ liệu (data) và chức năng (functions/actions) quan trọng nhất. Khi diện tích bề mặt nhỏ, thì lượng thông tin có thể trình bày trên màn hình cùng một thời điểm sẽ bị giới hạn. Bởi vậy, thông tin (trên thiết bị di động) phải được trình bày tuần tự (sequentially). Điều này khác với giao diện desktop thông thường, khi các lựa chọn khác nhau thường được bày ra hết trên diện tích màn hình rộng rãi.

Với công nghệ màn hình hiện tại, mật độ điểm ảnh được tăng lên đáng kể, điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng hiển thị hình ảnh là chính. Về diện tích vật lý của màn hình tuy có tăng nhưng sẽ không đáng kể; và đối với thiết bị di động chúng ta luôn gặp giới hạn về số lượng thông tin có thể trình bày vào cùng một màn hình.

Lấy ví dụ từ trang nghe nhạc trực tuyến ở Việt Nam để minh họa, dưới đây là sự khác biệt giữa giao diện mobile và giao diện desktop web của Zing MP3.

Giao diện trên desktop

Giao diện trên desktop web.

Giao diện trên mobile.

Giao diện trên mobile.

Phiên bản di động tâp trung vào một tác vụ chính (chơi nhạc), trong khi đó phiên bản web có rất nhiều tính năng khác nhau được hiện ra cùng một màn hình. Điều đó không có hàm ý là phiên bản web được thiết kế tồi, mà bài học ở đây là thiết kế trên di động ép ta phải tập trung vào những nội dung và tác vụ cơ bản nhất. Khi chúng ta xây dựng và thiết kế một ứng dụng hoặc dịch vụ trên nền di động trước, điều đó sẽ giúp ta cho ra sản phẩm tốt hơn.

Smartphone là nền tảng Internet ưu việt

Mọi người thường hay nghĩ phiên bản di động có giới hạn so với phiên bảng desktop web, và trên desktop web mới có đầy đủ tính năng. Tuy vậy, nhìn nhận một cách khác thì dùng Internet trên di động ưu việt hơn hẳn trên nền desktop web. Trên PC, Internet đồng nghĩa với trình duyệt (browser), chuột và bàn phím; trên mobile, mô hình tương tác phong phú hơn nhiều: iBeacons, push notifications, Touch ID, cameras, customer keyboards…. Smartphone cũng có nhiều thông tin dữ liệu về bạn hơn hẳn nền tảng web: Smartphone biết được bạn của người dùng là ai (contacts), người dùng đang đi bộ hay chạy, ảnh của người dùng, vị trí của người dùng (GPS)…

Chính vì những sự ưu việt đó, nên tảng mobile tạo ra những ứng dụng mà web không thể có. Ví dụ, Yelp, dịch vụ review online, đưa ra ứng dụng Yelp Monocle: “Ứng dụng sử dụng thông tin từ smartphone GPS và la bàn (compass) để hiển thị thông tin Augmented Reality về các quán ăn, nhà hàng rất trực quan”.

Chính vì nền tảng di động đã trở thành điện toán lớn nhất trong lịch sử loài người, smartphone đã trở thành vật bất ly thân gắn liền với đại đa số mọi người, ngoài ra việc phát triển ứng dụng trên mobile trước cũng giúp cho ra sản phẩm tốt hơn, thậm chí nền tảng mobile còn giúp đưa ra những ứng dụng mà nền tảng web không thể có; do vậy các doanh nghiệp cần phải thay đổi tư duy về mobile và áp dụng chiến lược phát triển “mobile first”. Điều này không chỉ còn là lý thuyết mà đã được các tập đoàn lớn áp dụng thành công cho cả các sản phẩm đại chúng (consumer-facing products) và cả các ứng dụng cho doanh nghiệp (business applications).

Bài được đăng trên báo Chungta.

On Business

The product or service is the mean by which the company or organisation generates value and meets the needs of consumers, and by which it maintains lasting and profitable relationships with its customers.

To do business is to serve customers.

Interaction Design

Present desktop GUIs are a compound of at least two distinct interfaces, a relatively visible and learnable but time-consuming menu-based system and an incomplete keyboard-based collection of hard-to-learn and unmemorable shortcuts. Two wrongs do not make a right.
— Jeff Raskin

Does not seem things have changed much.

On Opa programming language

HTML is a first-class citizen in Opa: it is a predefined data type with special support that allows it to be entered using its usual syntax.

If you are a web framework, then support HTML as a first-class citizen is useful and advantageous. In this case, Opa achieves that by inventing a new programming language. Is there other ways? Right off the top of my head, I would think of Tcl might be an candidate.

 

On living Zen

“So there are two aspects to our journey, to our learning process: there is learning by sitting meditation and learning by life experiences. And there is no problem in joining these two together. It is like having a pair of eyes and then putting on glasses. It is the same thing.”

Excerpt From: Chogyam, Trungpa. “The Sanity We Are Born With.”

On soul

“Nobody can live without a soul, and once you start thinking that there is no soul, your life starts losing all meaning. The soul is your very integrating concept; without it you are cut away from existence and eternal life”
— Osho. “Bodhidharma: The Greatest Zen Master.”