Các mô hình kinh doanh cho API

Với những lợi ích đem lại cho doanh nghiệp, API (Application Programming Interface – giao diện lập trình ứng dụng) được xem là thành tố không thể thiếu trong nền kinh tế số (digital economy).

Trong loạt bài trước chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu thế nào là API, nó được khai thác sử dụng như thế nào, và các đối tượng người dùng API là ai; API đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp… Bài viết này, chúng ta sẽ nhìn API từ khía cạnh kinh doanh và tìm hiểu các mô hình kinh doanh (business model) có thể áp dụng khi triển khai API.

Về mặt kỹ thuật, API là cách mà các ứng dụng/dịch vụ tương tác với nhau, nó giúp tạo ra những ứng dụng mới sáng tạo và giá trị mới cho người dùng. Đối với nhiều công ty, API là một phần quan trọng của nền tảng kinh doanh. Tuy vậy, nhiều công ty xây dựng toàn bộ mô hình kinh doanh của họ xoay quanh API. Ví dụ, Công ty Twilio đang chuẩn bị lên sàn chứng khoán New York, mô hình kinh doanh của Twilio xoay quanh việc cung cấp các API cho dịch vụ tin nhắn, thoại, và các dịch vụ viễn thông khác.

1_1466141692.png

Có thể phân loại ra bốn kiểu kinh doanh API thông dụng. Một là cung cấp API miễn phí, hai là người dùng trả tiền để sử dụng API, ba là nhà cung cấp API trả tiền cho người dùng, bốn là các hình thức kinh doanh API với giá trị nhận lại gián tiếp. Chúng ta sẽ tìm hiểu từng thể loại một và xem xét một vài ví dụ điển hình, đồng thời liên hệ với các dịch vụ sản phẩm của chính FPT.

API dùng miễn phí

Một doanh nghiệp (hoặc tổ chức) có thể mở API ra cho dùng miễn phí. Bất cứ nhà phát triển (lập trình viên) nào cũng có thể đăng ký để khai thác sử dụng. Ví dụ, Facebook cung cấp miễn phí API để mọi người nhúng nút Like vào trang web của mình. Việc này giúp nút Like của Facebook xuất hiện khắp mọi nơi trên web, khẳng định là nền tảng social networking số một của Facebook. Có một số thống kê tính rằng, cứ 5 trang web thì có một trang sử dụng nút Like của Facebook. Ước tình có 125 triệu trang web như vậy.

API phải trả tiền để dùng

Trong trường hợp này, người dùng sẽ trả tiền cho nhà cung cấp để được sử dụng API. Điều này ban đầu nghe có vẻ giống với các loại hình kinh doanh truyền thống ta vẫn thấy. Tuy vậy, API là một hình thức kinh doanh số nên có nhiều mô hình kinh doanh mới rất thú vị.

Pay As You Go -Trả tiền theo thực tế sử dụng. Điển hình cho mô hình này là dịch vụ Cloud của Amazon, đó là Amazon Web Services (AWS). AWS cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng như máy chủ, cơ sở dữ liệu, lưu trữ, hạ tầng mạng… với chính sách giá Pay-As-You-Go. Người dùng có thể mua dịch vụ của AWS theo nhu cầu (không phải báo trước) và dùng trong khoảng thời gian nhất định. Chính sách giá của AWS không đòi hỏi khách hàng phải trả một mức phí tối thiểu, hay đặt cọc, hoặc hợp đồng dài hạn. Việc này giúp người dùng của AWS chỉ phải chi trả cho đúng nhu cầu thực tế của hệ thống. Vì đối với các hệ thống cũ, việc mua và lắp đặt hệ thống mất rất nhiều thời gian, dẫn đến việc các tài nguyên phải được mua trước theo dự báo nhu cầu, việc đó dẫn đến tổ chức phải bỏ ra một số vốn lớn ban đầu (capex), và gây lãng phí hoặc nếu không thì lại không đáp ứng được nhu cầu thật.

2d_1466141725.png

Chính vì những lợi điểm của phương pháp tính giá như vậy, rất nhiều công ty lớn đã sử dụng AWS thay vì phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của mình hoặc thuê các loại hình trung tâm dữ liệu truyền thống. Netflix là công ty cung cấp dịch vụ xem phim trực tuyến lớn nhất thế giới, Netflix sử dụng AWS cho gần như toàn bộ hệ thống streaming của họ, Netflix sử dụng hàng chục nghìn máy chủ và lưu trữ hàng chục petabytes dữ liệu trên dịch vụ AWS một phần vì tính linh động của phương pháp tính giá theo nhu cầu sử dụng.

Freemium – Miễn phí tính năng cơ bản, trả tiền cho tính năng cao cấp. Với mô hình này, người dùng được dùng miễn phí sản phẩm và dịch vụ, nhà cung cấp chỉ tính phí khi người dùng chọn các tính năng đặc biệt. Đây cũng là một mô hình thông dụng các nhà cung cấp API thương mại hay sử dụng. Lợi điểm của mô hình này là khuyến khích người dùng thử dịch vụ, giúp việc phát triển tập người dùng rất nhanh và hiệu quả. Sau khi đã có tập người dùng lớn thì nhà cung cấp có thể bán các dịch vụ cao cấp cho một số nhỏ người dùng trả tiền. Ví dụ, dịch vụ Google Cloud Vision API cho phép người dùng sử dụng miễn phí 1.000 unit/tháng; hoặc dịch vụ Google Maps API cũng dùng chính sách freemium.

Ngoài ra còn rất nhiều mô hình khác như transaction fee, unit-based…

API được trả tiền khi dùng

Trong trường hợp này, việc dùng API thường đem lợi ích đến cho nhà cung cấp API. Vì vậy, nhà cung cấp muốn khuyến khích và tạo động lực cho việc sử dụng API bằng cách trả tiền cho người dùng. Các hình thức trả tiền cho nhà phát triển rất đa dạng tùy thuộc vào ngành nghề và phương pháp kinh doanh của từng nhà cung cấp.

Một trong những API trả tiền nổi tiếng là Amazon Advertising API, API này cho phép nhà phát triển truy cập và lấy thông tin về hàng triệu sản phẩm mà Amazon đang bán trên hệ thống của họ trên toàn cầu như: Sách báo, âm nhạc, đồ điện tử, đồ gia dụng… Từ đó, nhà phát triển có thể dùng thông tin này để quảng cáo các sản phẩm trên trang web của mình. Nếu người dùng mua một sản phẩm mà do nhà phát triển giới thiệu đến, thì Amazon sẽ trả cho người giới thiệu một tỷ lệ hoa hồng quảng cáo nhất định tùy theo mặt hàng.

Untitled_1466141866.png

Những hình thức này người ta gọi là tiếp thị Liên kết (affiliate marketing). Đây là phương thức tiếp thị dựa trên nền tảng công nghệ Internet; phương thức này có lợi điểm hơn các phương thức truyền thống là việc thanh toán chỉ dựa trên hiệu quả của quảng cáo mà không dựa vào các chỉ số gián tiếp như thời gian và tần suất quảng cáo. Việc thực hiện những hình thức tiếp thị liên kết này đều dựa vào nền tảng API để liên kết các bên.

API không trực tiếp tạo ra doanh số

Ngoài những phương thức kinh doanh API kể trên thì một tổ chức có thể triển khai hệ thống API vì nhiều lợi ích và lý do khác, tuy không trực tiếp tạo ra doanh số. Một những lợi ích đó là khai thác được trí tuệ của cộng đồng. Ví dụ, Fitbit là công ty chuyên sản xuất các thiết bị theo dõi thông số sức khỏe cá nhân (fitness tracker). Lúc đầu, chỉ có một ứng dụng tương thích với phần cứng của công ty được chính công ty phát triển.

Điều này không đáp ứng được với nhu cầu đa dạng của người dùng. Vì thế năm 2011, Công ty Fitbit mở API về dữ liệu (thu thập được từ thiết bị) ra cho các nhà phát triển khai thác. Đến giờ đã có hơn 30 ứng dụng được phát triển từ các bên thứ ba khai thác API của Fitbit. Việc có nhiều ứng dụng phục vụ nhu cầu đa dạng của người dùng giúp tăng giá trị của thiết bị Fitbit, đồng thời kích thích nhu cầu sử dụng của người dùng. Fitbit có được nhưng ưu thế này mà không mất chi phí đang kể nào (ngoài việc duy trì vận hành API).

Hoặc như các công ty có thể phát triển API để dùng nội bộ giúp việc tích hợp các hệ thống nội bộ nhanh chóng hơn. Khi phát triển một ứng dụng nội bộ cho doanh nghiệp, thường thì hệ thống mới phải truy xuất và lấy thông tin, dự liệu từ nhiều nguồn khác nhau (từ các phòng ban khác nhau). Công việc này (nếu không dùng hệ thống API chung) thì rất tốn thời gian vì các hệ thống khác nhau lưu trữ thông tin với các format khác nhau (data format), và dữ kiệu được trao đổi với các phương thức khác nhau (data exchange protocol). Phần code được viết cho việc tích hợp này thường không bao giờ tái sử dụng lại được cho các trường hợp tương tự. Ví dụ, Công ty Comcast ở Mỹ, sau khi triển khai hệ thống API nội bộ, thì việc tích hợp dữ liệu giữa các hệ thống giảm từ vài ngày xuống còn 30 phút.

fsfsfd_1466141894.png

Chúng ta có thể thấy có rất nhiều mô hình kinh doanh có thể áp dụng đối với API. Việc áp dụng mô hình kinh doanh nào vào hệ thống API thường phụ thuộc vào đặc thù kinh doanh của từng công ty và mục đích khai thác API của công ty đó là gì. Chúng ta cùng tìm hiểu và phân loại các mô hình kinh doanh API khác nhau, trên thực tế thì một API có thể có nhiều lợi ích khác nhau cùng một lúc, và công nghệ ngày càng phát triển đặc biệt trong lĩnh vực IoT, điều đó sẽ tạo ra những loại hình dịch vụ mới (thường dựa trên nền tảng API để khai thác), chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu thêm trong loạt bài sau.

Bài đăng trên báo Chungta.

Những lợi ích mà API đem lại cho doanh nghiệp

Khi một công ty mở các công nghệ, dịch vụ và dữ liệu của mình ra dưới dạng API, tùy thuộc vào đối tượng sử dụng thì công nghệ dịch vụ đó sẽ được khai thác khác nhau và đem lại các giá trị khác nhau.

Có thể nói một cách tổng quát, khi mở API (Application Programming Interface) doanh nghiệp nhắm tới ba đối tượng chính: Các đơn vị nội bộ (hoặc là giữa các công ty thành viên của tập đoàn), các đối tác kinh doanh, và cho cộng đồng.

Untitled-5051-1464167903.jpg

API dùng nội bộ

Công ty có thể mở API ra để dùng trong nội bộ công ty (hoặc tập đoàn). Các API nội bộ này thường được dùng để hỗ trợ việc tích hợp giữa các ứng dụng và hệ thống trong công ty một cách hiệu quả hơn. Khi phát triển một ứng dụng nội bộ cho doanh nghiệp, thường thì hệ thống mới phải truy xuất và lấy thông tin, dự liệu từ nhiều nguồn khác nhau (từ các phòng ban khác nhau). Công việc này (nếu không dùng hệ thống API chung) thì rất tốn thời gian vì các hệ thống khác nhau lưu trữ thông tin với các format khác nhau, và dữ kiệu được trao đổi với các phương thức khác nhau (data exchange protocol). Phần code được viết cho việc tích hợp này cũng không được tái sử dụng cho các trường hợp tương tự.

Khi việc tích hợp giữa các hệ thống này được triển khai qua một hệ thống API chung thì sẽ nhanh và hiệu quả hơn nhiều. Ví dụ, Công ty Comcast ở Mỹ, sau khi triển khai hệ thống API nội bộ, thì việc tích hợp dữ liệu giữa các hệ thống giảm từ vài ngày xuống còn 30 phút.

Việc dùng API nội bộ để phối hợp giữa các đơn vị còn giúp doanh nghiệp khai thác tối ưu tài nguyên và nguồn lực. Một ví dụ trong Tập đoàn FPT là việc phối hợp giữa nhóm Fshare và Nhạc số. Fshare cung cấp API về dịch vụ lưu trữ và trao đổi file online ra cho nhóm Nhạc số xây dựng dịch vụ nghe nhạc trực tuyến. Việc này giúp cho nhóm Nhạc số có thể tập trung phát triển sản phẩm âm nhạc mà không phải lo về các vấn đề kỹ thuật của cơ sở hạ tầng.

API cho các đối tác kinh doanh

API có thể được mở ra để doanh nghiệp tương tác với các đối tác kinh doanh. Trong nền kinh tế số thì các doanh nghiệp tương tác với nhau không chỉ qua các dịch vụ và tài sản hữu hình mà còn qua các tài sản dịch vụ vô hình. Việc này thường được thực hiện qua hình thức API. Một ví dụ điển hình cho hình thức này là CyRadar (một sản phẩm của FPT) mở dịch vụ kiểm tra web mã độc ra cho MOG (đối tác kinh doanh của FPT) sử dụng để tạo ra sản phẩm trình duyệt mobile Yolo. Người dùng trình duyệt Yolo có thể yên tâm duyệt web an toàn tiện lợi vì Yolo sau khi dùng công nghệ của CyRadar có khả năng cảnh báo đến 1,2 triệu website độc hại.

2-2743-1464167903.jpg

Một ví dụ khác trong việc mở API ra cho các đối tác kinh doanh rất thành công trên thế giới là trường hợp của Công ty Expedia, hơn 90% doanh thu của họ là đến từ kênh API. Expedia là một công ty đặt phòng khách sạn và vé máy bay trực tuyến, họ mở API để các trang đối tác truy cập toàn bộ thông tin về danh sách khách, đánh giá người dùng, dịch vụ tuyến bay… Các thông tin này được tích hợp để hiển thị vào trang web của bên thứ ba. Khi người dùng click vào nội dung thông tin cung cấp bởi Expedia thì được đưa về trang của Expedia. Việc này giúp Expedia tăng doanh thu, tìm được khách hàng mới.

API mở cho cộng đồng

Việc mở API ra cho cộng đồng không phải là việc mới lạ đối với các công ty công nghệ trên thế giới. Ví dụ như IBM Watson Developer Cloud, hay Google Cloud Vision API. Cả hai hãng công nghệ hàng đầu thế giới đưa ra cho cộng đồng dùng thử các kết quả nghiên cứu mới nhất của họ theo hình thức dịch vụ API (web services). Người sử dụng những công nghệ này có thể là bất cứ ai: công ty startups, nhà phát triển ứng dụng độc lập, hay là một nhà nghiên cứu.

Việc mở ra các cộng nghệ của một tổ chức cho cộng đồng như thế này sẽ có nhiều lợi ích. Một trong những lợi ích đó là khai thác được trí tuệ của cộng đồng. Ví dụ, Fitbit là công ty chuyên sản xuất các thiết bị theo dõi thông số sức khỏe cá nhân (fitness tracker). Lúc đầu, chỉ có một ứng dụng tương thích với phần cứng của công ty được chính công ty phát triển. Điều này không đáp ứng được với nhu cầu đa dạng của người dùng. Vì thế năm 2011, Công ty Fitbit mở API về dữ liệu (thu thập được từ thiết bị) ra cho các nhà phát triển khai thác. Đến giờ đã có hơn 30 ứng dụng được phát triển từ các bên thứ ba khai thác API của Fitbit. Việc có nhiều ứng dụng phục vụ nhu cầu đa dạng của người dùng giúp tăng giá trị của thiết bị Fitbit, đồng thời kích thích nhu cầu sử dụng của người dùng. Fitbit có được những ưu thế này mà không mất chi phí đang kể nào (ngoài việc duy trì vận hành API).

3-2079-1464167903.jpg

Ở Việt Nam, FPT thông qua cổng API openFPT.vn đang bắt đầu đưa ra cho cộng đồng khai thác các công nghệ trong tập đoàn. Một số mục tiêu của dự án này như sau:

•    FPT thông qua chương trình Open FPT để tạo tiền đề thúc đẩy quá trình digitalization.

•    Hỗ trợ hệ sinh thái công nghệ và khởi nghiệp nói chung.

•    Hộ trợ gia tăng giá trị cho các công ty khởi nghiệp của FPT Ventures và FPT Accelerator.

•    Với các tài nguyên và công nghệ mà FPT đầu tư nhiều năm, hy vọng khi mở ra các nhà phát triển sẽ tạo những dịch vụ và sản phẩm mới.

Những công nghệ này là kết quả nghiên cứu của các cán bộ công nghệ FPT trong nhiều năm. Các dịch vụ này sẽ được mở ra theo dạng API qua một cổng API chung của FPT tại địa chỉ openFPT.vn. Qua cổng này, các nhà phát triển ứng dụng sẽ có thể tìm kiếm, đăng ký sử dụng dịch vụ của FPT. Đa số công nghệ của FPT sẽ được mở ra cho bên thứ ba sử dụng với quota miễn phí nhất định. Các nhà phát triển có nhu cầu sử dụng vượt quá ngưỡng miễn phí sẽ có những chính sách hỗ trợ riêng.

Bài đăng trên báo Chungta.

Nền kinh tế API

Trước đây, API (Application Programming Interface) là thuật ngữ kỹ thuật mà chỉ có lập trình viên mới biết tới, nhưng ngày nay mọi thứ đã thay đổi, API đã trở thành cấu thành cơ bản (building blocks) để thúc đẩy doanh thu và nâng cao gắn kết cho thương hiệu. Toàn bộ nền kinh tế điện tử (digital economy) được xây dựng xung quanh API được gọi là nền kinh tế API (API economy).

API mô tả cách thức các hệ thống phần mềm (software components) tương tác và liên lạc với nhau qua các giao thức được định nghĩa rõ ràng (defined interfaces). Trước kia khi nói về API thì người ta hay nói về mô tả kỹ thuật (specification) của cấu trúc dữ liệu, thư viện phần mềm, và các lớp đối tượng (object classes). Ví dụ, thư viện java.sql cung cấp API (bằng ngôn ngữ lập trình Java) để truy cập và xử lý dữ liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu (database).

Figure 1- java.sql Interface Connection

Figure 1- java.sql Interface Connection

Trong thời đại cloud hiện nay, khi nói đến API người ta thường nói đến Web API, là giao diện (interface) cho phép tài nguyên/dịch vụ được truy cập quay Internet, thường là bằng giao thức HTTP (cùng với giao thức của trình duyệt web chúng ta hay dùng). Web APIs cho phép kết hợp nhiều APIs với nhau thành những dịch vụ/ứng dụng mới được gọi là mashups. the Chicago Crimes Map là một ví dụ điển hình của thể loại này:

Figure 2- Chicago Crimes Map

Figure 2- Chicago Crimes Map.

Ứng dụng trên là một bản đồ của thành phố Chicago (bản đồ dùng dịch vụ API của Google Map) được lồng thông tin về tội phạm của thành phố lên (dữ liệu thông tin tội phạm của thành phố được cung cấp dưới dạng API để máy có thể truy cập). Kết quả là người dùng có thể hình dung ra tình trạng tội phạm của thành phố Chicago một cách dễ dàng; ngoài ra, người dùng có thể tương tác/khám phá dữ liệu một cách trực quan (xem thể loại tội phạm của một khu dân cư, hoặc tần xuất phạm tội ở các khung giờ khác nhau).

API không chỉ giúp tạo ra những mashup thú vị, nó còn là tiền đề để tạo ra những sản phẩm và mô hình kinh doanh hoàn toàn mới. Ví dụ, dịch vụ Google Adsense cho phép các trang web nội dung có thể kiếm tiền bằng cách đặt quảng cáo của Google vào trang của mình. AdSense sẽ tự động chọn những quảng cáo phù hợp với nội dung và độc giả của trang web đó. Toàn bộ sản phẩm quảng cáo này của Google được vận hành qua cơ chế Web API. Quý I/2014, Google kiếm được 3,4 tỷ USD, khoảng 22% doanh thu quý, từ dịch vụ AdSense này.

Nền kinh tế API

Trước đây, API là thuật ngữ kỹ thuật mà chỉ có lập trình viên mới biết tới, nhưng ngày nay mọi thứ đã thay đổi, API đã trở thành cấu thành cơ bản (building blocks) để thúc đẩy doanh thu và nâng cao gắn kết cho thương hiệu. Toàn bộ nền kinh tế điện tử (digital economy) được xây dựng xung quanh API được gọi là nền kinh tế API (API economy).

Các công ty công nghệ đã tạo ra phần lớn doanh thu từ các API của họ. Salesforce.com tạo ra hơn một nửa doanh thu gián tiếp qua hệ thống API chứ không phải trực tiếp từ các sản phẩm (mà người dùng cuối dùng trực tiếp) của họ. Amazon tạo ra 40% doanh số trong năm 2008 từ chương trình affiliate marketing Amazon Asociates. Gần 90% doanh số 2 tỷ USD năm 2013 của Expedia đến từ API của họ.

Figure 3- API Economy.

Figure 3- API Economy.

Đấy là hiệu quả về doanh số, ngoài ra API còn giúp công ty tăng độ phủ khách hàng và độ xâm nhập thị trường (market penetration). Trong năm 2010, 75% traffic của Twitter đến từ ứng dụng của bên thứ ba (third-party applications). Trong những ngày đầu thành lập, giao web chuẩn của Twitter không đáp ứng đủ nhu cầu của một lớp người dùng; TweetDeck là một ứng dụng của lập trình viên độc lập, đã phục vụ tốt những nhu cầu không được đáp ứng này. Trong trường hợp này, API đã thực sự giúp Twitter tăng trưởng và chiếm lĩnh thị trường. TweetDeck trở thành ứng dụng Twitter thông dụng nhất với 23% thị phần (tháng 6/2010), chỉ đứng sau bản web của chính Twitter.

Hơn nữa, API có thể giúp các công ty truyền thống số hóa mô hình kinh doanh của mình để thay đổi và chuyển mình. Các nhà bán lẻ lớn ở Bắc Mỹ như BestBuy hay Walgreen đều cho phép lập trình viên bên ngoài truy xuất và khai thác các thông tin và tài nguyên kinh doanh qua dạng API. Từ đó, bên thứ ba có thể tạo ra những ứng dụng dịch vụ mà chính công ty mẹ không cung cấp (hoặc không nghĩ tới). Ví dụ, Walgreens Photo Prints API cho phép các lập trình viên ứng dụng di động cung cấp khả năng in ảnh (photo print) cho người dùng của mình. Người dùng có thể chọn lấy ảnh của mình từ 8000+ địa điểm của hàng của Walgreens. Khi dùng API này lập trình viên sẽ được chia sẻ phần trăm hoa hồng từ việc sử dụng dịch vụ in ấn của người dùng. Các nhà bán lẻ đều đang đầu tư mạnh vào những mô hình kết hợp giữu online và offline như thế này (omi-chanel).

Gartner, một hãng nghiên cứu thị trường uy tín trên thế giới, chỉ ra rằng, nhân loại đang tiến vào một kỷ nguyên công nghệ mới được gọi là Digitalization (số hóa), trong đó các doanh nghiệp được số hóa để tạo ra giá trị (value) và doanh số (revenue) từ việc khai thác tài nguyên số (digital assets). Dù với bất kỳ một chiến lược kinh doanh số nào (digitalization), thì API luôn là thành phần chính (core element) để thúc đẩy và hiện thực hóa tăng trưởng trong tương lai. Trong bài tiếp theo, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu cách thức hoạt động của API, và cách mà API giúp tạo ra các hệ sinh thái xung quanh một doanh nghiệp.

Bài được đăng trên báo Chungta.

API được khai thác như thế nào?

Các công ty mở API ra và nó được sử dụng như thế nào? Bài viết này sẽ tập trung vào một số kịch bản đặc trưng mà API được sử dụng trong thực tế để độc giả có hình dung rõ ràng.

Một trong những chuối giá trị (value chain) đặc thù của việc sử dụng API được minh họa như hình trên. Doanh nghiệp sẽ mở các tài sản kinh doanh (business assets) của mình ra dưới dạng APIs. Tài sản này có thể là thông tin, dữ liệu, có thể là dịch vụ tùy thuộc vào đặc thù ngành nghề của doanh nghiệp. Các API này sẽ được khai thác và sử dụng với lập trình viên (trong và ngoài công ty). Thường thì các API được tích hợp và kết hợp với những ứng dụng và dịch vụ khác để cung cấp tới người dùng đầu cuối (consumers) một giá trị mới.

Chuỗi giá trị đặc thù

Figure 1- Chuỗi khai thác giá trị của API.

Figure 1- Chuỗi khai thác giá trị của API.

Một ví dụ là chuỗi bán lẻ Walgreens tại Bắc Mỹ, họ mở dịch vụ in ấn ảnh ra ngoài qua dạng API. Rất nhiều nhà phát triển bên thứ ba (third-party developers) đã khai thác sử dụng. Một trong những ứng dụng thông dụng sử dụng API của Walgreens là http://printicular.com/ nó cho phép người dùng in ảnh từ điện thoại hoặc tài khoản Facebook của mình, người dùng đến lấy ảnh in ra một trong 8000+ địa điểm của Walgreens trên toàn nước Mỹ. Printicular sẽ được chia tỷ lệ doanh thu từ việc sử dụng dịch vụ của Walgreens. Thống kê cho thấy doanh thu trên đầu khách hàng có tương tác với các dịch vụ như vậy cao hơn hẳn các khách hàng khác.

Figure 2- Room77 là trang search tổng hợp, các kết quả sẽ được chuyển về những nhà cung cấp gốc như Expedia

Figure 2- Room77 là trang search tổng hợp, các kết quả sẽ được chuyển về những nhà cung cấp gốc như Expedia.

Một công ty khác kinh doanh rất tốt qua cơ chế API đó là Expedia, hơn 90% doanh thu của họ là đến từ kênh API. Expedia là một công ty đặt phòng khách sạn và vé máy bay trực tuyến, họ mở API để các trang đối tác truy cập toàn bộ thông tin về danh sách khách, đánh giá người dùng, dịch vụ tuyến bay… Các thông tin này được tích hợp để hiển thị vào trang web của bên thứ ba. Khi người dùng click vào nội dung thông tin cung cấp bởi Expedia thì người dùng được đưa về trang của Expedia; việc này giúp Expedia tăng doanh thu, tìm được khách hàng mới.

Kết hợp các API khác nhau

Ngoài việc API được khai thác bởi bên thứ ba, thì APIs của các công ty khác nhau còn có thể kết hợp lại thành những dịch vụ mới mà một công ty thường không làm được. Một ứng dụng như vậy được đề cập đến ở bài trước đó là the Chicago Crimes Map.

Figure 3 - Chicago Crimes Map.

Figure 3 – Chicago Crimes Map.

Ứng dụng trên là một bản đồ của thành phố Chicago (bản đồ dùng dịch vụ API của Google Maps) được lồng thông tin về tội phạm của thành phố lên (dữ liệu thông tin tội phạm của thành phố được cung cấp dưới dạng API để máy có thể truy cập). Kết quả là người dùng có thể hình dung ra tình trạng tội phạm của thành phố Chicago một cách dễ dàng; ngoài ra người dùng có thể tương tác/khám phá dữ liệu một cách trực quan (xem thể loại tội phạm của một khu dân cư, hoặc tần xuất phạm tội ở các khung giờ khác nhau).

Ngoài việc tự kết hợp các API từ một số công ty khác nhau để tạo ra dịch vụ mới, nhiều nhà phát triển còn tạo ra nền tảng (platform) kết nối các APIs lại để cho phép người dùng tự khai thác và kiểm soát các API theo ý mình. Một platform nổi tiếng trong lĩnh vực này là IFTTT (viết tắt của cụm từ If This, Then That).

Untitled-1740-1461915239.jpg

Sau khi các API được kết nối vào hệ thống của IFTTT, người dùng có thể tạo ra những luật (rules) cho tình huống sử dụng như: nếu mặt trời lặn thì bật đèn (đèn thông minh). Thông tin lúc nào mặt trời lặn được cung cấp bởi API của các công ty thời tiết, còn việc điều khiển đèn thông minh được IFTTT truy cập từ API của đèn. Như vậy ngôi nhà luôn được cung cấp sáng đúng lúc mà gia chủ không phải làm gì cả. Có rất nhiều luật được thiết kế sẵn được mọi người chia sẻ tại kho của IFTTT: https://ifttt.com/recipes.

Trên đây là một số ví dụ mà API được dùng và khai thác để tạo ra giá trị mới. Trên thực tế API được sử dụng và khai thác rất đa dạng chứ không giới hạn như các phương pháp trình bên trên. Trong loạt bài tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm các khía cạnh khác của hệ sinh thái API như: các mô hình kinh doanh mà doanh nghiệp có thể kiếm tiền từ việc mở API của mình và lợi ích khác nhau của việc mở API.

Bài được đăng trên báo Chungta

Chiến lược chiếm lĩnh thị trường Smart Home của các ông lớn

Với xu thế công nghệ Internet of Things (IoT) đang bùng nổ thì các thiết bị trong nhà ngày càng trở nên thông minh (smart devices) do được trang bị khả năng tính toán (computing power), khả năng cảm biến môi trường (sensor), và khả năng kết nối mạng (networking, internet connected). Các thiết bị khi được áp dụng công nghệ IoT thường được gọi là thiết bị thông minh (smart devices).

Thị trường thiết bị thông minh trong gia đình (Smart Home) là thị trường đầy hứa hẹn; theo ước tính của Business Insider, đến năm 2020 sẽ có 13 tỷ thiết được gọi là thiết bị Smart Home. Các thiết bị này rất đa dạng: camera an ninh, thiết bị báo cháy, khóa cửa, nhiệt kế, tủ lạnh, đèn chiếu sáng… Trong một hộ gia đình (ước tính ở thị trường Bắc Mỹ) có khoảng 100 đồ vật có thể áp dụng được công nghệ IoT để trở thành thiết bị thông minh.

Figure 1- Thiết bị thông minh có khả năng tính toán, sensor, và kết nối.

Figure 1- Thiết bị thông minh có khả năng tính toán, sensor, và kết nối.

Tuy tiềm năng như vậy, nhưng đây là thị trường chưa định hình sân chơi từ công nghệ, đến sản phẩm, và thói quen của người tiêu dùng. Ví dụ, hiện nay chưa có một chuẩn chung cho việc kết nối các thiết bị thông minh trong gia đình (smart home networking); Wi-fi, Bluetooth, Z-Wave và Zigbee là các chuẩn kết nối thông dụng mà thiết bị thông minh hiện tại đang sử dụng; mỗi công nghệ có ưu và nhược điểm riêng.

Figure 2 -  Có khoảng 100 đồ dùng có thể IoT hóa trong một hộ gia đình

Figure 2 – Có khoảng 100 đồ dùng có thể IoT hóa trong một hộ gia đình

Tất cả các hãng công nghệ lớn như Goolge, Amazon, Apple, và Samsung đều đang tìm cách chiếm lĩnh thị trường Smart Home này. Đối với những hãng công nghệ lớn thì việc chiếm lĩnh và làm chủ hệ sinh thái của một xu hướng mới là vô cùng quan trọng; việc này có ý nghĩa sống còn với họ. Ví dụ nhãn tiền gần đây là khi xu hướng công nghệ chuyển dịch từ PC/desktop sang hệ sinh thái smartphone (di động), Nokia tuy đã từng là hãng di động hàng đầu thế giới nhưng do không nắm bắt và theo kịp xu hướng smartphone mà giờ đây đã bị xóa sổ. Blackberry là cha đẻ của khái niệm smartphone nhưng do không vào được hệ sinh thái mới mà giờ cũng bị loại khỏi cuộc chơi.

Figure 3 - Các sản phẩm Smart Home

Figure 3 – Các sản phẩm Smart Home.

Về cơ bản thì các ông lớn đều muốn kiểm soát và chi phối hệ sinh thái Smart Home, tuy vậy, mỗi hãng có những động thái và chiến lược khác nhau, chúng ta sẽ xem xét chiến lược (cho tới thời điểm này) của bốn hãng lớn: Google, Amazon, Samsung, và Appe.

Google

Google đầu tư rất nhiều vào các công nghệ liên quan đến lĩnh vực IoT nói chung và smart home nói riêng: Google beacon platform, Brillo & Weave, OnHub Router, Google Cloud IoT… Tuy vậy để đi vào hộ tiêu dùng thì một chiến lược chính của Google là mua lại công ty Nest trong năm 2014. Nest đến giờ có ba sản phẩm chính khá thành công trên thị trường là hệ thống điều hòa thông minh, hệ thống báo cháy, và camera giám sát gia đình. Doanh thu của Nest năm 2015 là 340 triệu USD, tuy công ty mẹ Google tỏ ra thất vọng với kết quả này, nhưng đây vẫn là con số khá lớn chứng tỏ Google (Nest) bán được một số lượng lớn thiết bị và đã đặt được chân vào thị trường này.

Figure 4 - Nest có thiết kế và tinh năng ưu việt so với hệ thống điều hòa cũ.

Figure 4 – Nest có thiết kế và tinh năng ưu việt so với hệ thống điều hòa cũ.

Thiết bị điều hòa thông minh của Nest đã được thị trường đón nhận rất tốt khi ra đời do có thiết kế đẹp mắt, tính năng thông minh tự học được thói quen của người dùng giúp tiết kiệm điện năng đến 15%.

Chiến lược của Google là bán một sản phẩm rất tốt, người dùng nhận thấy lợi ích của sản phẩm rất rõ ràng, sau khi người dùng mua thiết bị này về thì Google biến nó thành bộ điều khiển trung tâm có thể kết nối và tương tác với các thiết bị thông minh khác trong nhà. Google thực hiện việc này qua chương trình Works with Nest, các sản phẩm của bên thứ ba khi có nhãn “Works with Nest” sẽ tương thích với hệ thống Nest của Google. Ví dụ, khi đèn thông minh Belkin Wemo khi dùng chung với sản phẩm của Nest sẽ tự động tắt đèn khi hệ thống thấy không có người ở nhà (các sản phẩm của Nest có cảm biến để biết được có người trong nhà hay không). Gần đây Google tái cơ cấu lại Nest để thúc đẩy mạnh hơn việc phát triển thị trường theo hướng này.

Amazon

Các tiếp cận thị trường của Amazon tương tự như Google (Nest), tức là bán một sản phẩm thông minh trong nhà rất hấp dẫn (killer product) để người dùng mua, sau đó biến thiết bị này thành một bộ điều khiển (hub) cho các thiết bị thông minh khác. Sản phẩm chiếm lĩnh thị trường Smart Home của Amazon là chiếc loa thông minh điều khiển bằng giọng nói (hands-free speaker), Amazon Echo. Điểm thú vị của chiếc loa này là không có phím điều khiển, mà người dùng giao tiếp với loa qua giọng nói; Amazon Echo hiểu được ngôn ngữ tự nhiên với độ chính xác rất cao. Ngoài việc chơi nhạc, Amazon Echo có thể trả lời người dùng các câu hỏi về thời tiết, đọc chuyện, mua hàng (tích hợp với hệ thống thương mại của Amazon)…

Figure 5 - Echo có giao điện tương tác bằng giọng nói.

Figure 5 – Echo có giao điện tương tác bằng giọng nói.

Hệ thống nhận dạng tiếng nói và ngôn ngữ tự nhiên của Amazon rất tốt, phản hồi của người dùng về sản phẩm này luôn đạt 4-5 sao. Tuy không có con số chính thức, nhưng ước tính Amazon bán được khoảng 3 triệu sản phẩm cho tới nay.

Cũng giống như chiến lược của Google, một khi người dùng đặt Amazon Echo trong nhà thì chính thiết bị này sẽ hoạt động như một bộ điều khiển trung tâm (hub) để tương tác với các thiết bị thông minh khác trong gia đình. Amazon mở ra bộ API để lập trình viên (developers) và các nhà phát triển thiết bị khác (OEM) tích hợp vào Echo; Amazon gọi một tính năng tích hợp mới này là “skill”, cho tới nay đã có tới 950 skills được tích hợp vào Amazon Echo. Sản phẩm Amazon Echo này thành công đến mức Google vừa phải nhanh chóng công bố một sản phẩm tương tự gọi là Google Home để cạnh tranh.

Samsung

Samsung cũng rất quan tâm đến thị trường Smart Home, một phần là thị trường thiết bị smartphone đang chững lại, Samsung tuy là nhà sản xuất thiết bị lớn nhưng không làm chủ được hệ sinh thái di động (mobile ecosystem), về phần mềm Samsung phụ thuộc vào Android của Google, về phần cứng các hãng Trung Quốc càng ngày càng cạnh tranh khốc liệt. Samsung tiến vào thị trường Smart Home bằng cách mua lại công ty SmartThings với giá 200 triệu USD (Google mua Nest với giá 3,2 tỷ USD).

Figure 6 - Samsung mua SmartThings để đặt chân vào thị trường nhà thông minh

Figure 6 – Samsung mua SmartThings để đặt chân vào thị trường nhà thông minh.

SmartThings bán một bộ hub điều khiển trung tâm (smart-home controller); thế mạnh của thiết bị này là có thể giao tiếp với rất nhiều các thiết bị thông minh có trên thị trường qua các chuẩn giao tiếp (không dây) khác nhau. SmartThings cũng có một chương trình “Works with SmartThings” để chứng nhận các thiết bị tương thích với hệ thống này. Tuy vậy, cách tiếp cận bằng cách bán một bộ điều khiển trung tâm không được thành công lắm, việc thiếu một “killer product” khiến rất khó thuyết phục người tiêu dùng về lợi ích của hệ thống (hoặc người dùng không thấy nhu cầu đó là thiết yếu).

Trong cuộc chơi này, Samsung có một thế mạnh là họ đã đang sản xuất rất nhiều thiết bị gia dụng (home appliances) có tiếng, Samsung có thể thâm nhập thị trường Smart Home qua các sản phẩm này, ví dụ gần đây họ vừa ra mắt chiếc tủ lạnh thông minh, tuy đang còn mang tính thử nghiệm cao, nhưng đây là một chiến lược rất hứa hẹn.

Apple

Apple bước vào thị trường Smart Home có một lợi thế là có nền tảng di động iPhone, với phiên bản iOS 9, Apple đưa ra chuẩn HomeKit để kết nối các thiết bị thông minh trong nhà với hệ điều hành iOS và điện thoại iPhone. Người dùng có thể dùng hệ thống nhận dạng giọng nói Siri trên iPhone để điều khiển các thiết bị trong nhà; một thành tố quan trọng trong bài toán chiếm lĩnh thị trường Smart Home của Apple đó là Apple TV; thiết bị này sẽ hoạt động như một bộ điều khiển trung tâm để kết nối với các thiết bị khác trong gia đình. Apple đã bán được hơn 25 triệu sản phẩm Apple TV cho tới nay.

7d-9339-1466831963.jpg

Có thể nói sau iPhone và iPad, Apple vẫn chưa đưa ra được một thiết bị nào có tính cách mạng; do vậy Smart Home có thể sẽ là một thị trường Apple mà Apple nhắm tới để đưa ra sản phẩm có tính đột phá.

Kiểm soát hệ sinh thái

Một đặc điểm chung trong chiến lược của các hãng là không chỉ nhắm tới việc tạo doanh thu trước mắt mà về lâu dài phải kiểm soát được hệ sinh thái (ecosystem) của thị trường nhà thông minh . Với nền tảng công nghệ hiện nay thì 2 thành tố quan trọng trong việc xây dựng hệ sinh thái cho nhà thông minh là: smartphone và smart home hub như được minh họa ở hình dưới. Google và Apple có lợi thế nhất định khi làm chủ hai nền tảng chính cho smartphone là Android và iOS. Họ có thể tích hợp thẳng những công nghệ để giúp họ triển khai dễ dàng các sản phẩm và dịch vụ trong thị trường mới này.

Figure 8 - Hai thành tố chính cho hệ sinh thái nhà thông minh: smartphone và smart home hub

Figure 8 – Hai thành tố chính cho hệ sinh thái nhà thông minh: smartphone và smart home hub.

Phần quan trọng còn lại của hệ sinh thái là bộ điểu khiển trung tâm (mart home hub) đều được các hãng muốn kiểm soát hoặc có ảnh hưởng tới. Google và Amazon dùng chiến lược go-to-market bằng cách bán một sản phẩm có chức năng rõ ràng và có tính năng vượt trội để thuyết phục khách hàng, sau đó biến chúng thành hub bằng cách mở API để các thiết bị thông minh khách giao tiếp qua nó. Cả hai công ty đều có thành công nhất định bằng hướng đi này.

Tuy vậy, để tạo ra một “killer product” cho thị trường mới không hề dễ. Samsung mua lại công ty SmartThings và bán cho người tiêu dùng một bộ smart home hub đầy đủ, việc bán một hệ thống chung này có khó khăn là người tiêu dùng không thấy được lợi ích một cách rõ rằng (unclear value proposition) hoặc các nhu cầu mà hệ thống giải quyết không thực sự thiết yếu. Đối với thị trường Việt Nam và đối với FPT là công ty mạnh về dịch vụ thì hướng tiếp cận vào thị trường nhà thông minh có thể rất khác, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thêm trong loạt bài sau.

Bài đăng trên báo Chungta. http://chungta.vn/tin-tuc/cong-nghe/chien-luoc-chiem-linh-thi-truong-smart-home-cua-cac-ong-lon-50098.html

Tương tác bằng giọng nói cho thiết bị IoT

Cùng với việc phát triển các các thế hệ máy tính thì phương thức tương tác giữa người và máy (Human-Computer Interaction, HCI) cũng có những phát minh quan trọng, đóng góp không nhỏ vào việc tăng tính tiện dụng và hiệu quả của máy tính vào công việc và đời sống.

Lịch sử tương tác người máy

Trong vòng 75 năm vừa qua, cứ khoảng một thập niên thì có những phát minh mang tính đột phá trong lĩnh vực này; ví dụ: GUI vào năm 1981, máy tính cầm tay (PalmPilot) vào những năm 90, năm 2007 iPhone đưa ra giao diện bấm chạm (touch). Gần đây nhất là giao diện giọng nói (Voice Interface) bắt đầu được sử dụng rộng rãi sau khi Apple giới thiệu hệ thống Siri trên iPhone.

Figure 1 - Lịch sử tương tác người-máy (1830s- 2015)

Figure 1 – Lịch sử tương tác người-máy (1830s- 2015)

Tại sao bây giờ? 

Thực ra giao diện giọng nói đã được nghiên cứu và phát triển đã lâu, ví dụ trong quảng cáo của Apple năm 1987 đã đưa ra viễn cảnh người và máy có thể tương tác qua giọng nói như hội thoại bình thường. Tuy vậy, công nghệ nhận dạng giọng nói (speech recognition) và công nghệ sử lý ngôn ngữ tự nhiên (Natural Language Processing) không đủ tốt để hiện thực hóa và đưa vào thực tiễn hàng ngày một hệ thống giao diện giọng nói.

Tuy vậy, bắt đầu từ khoảng năm 2010-2011 đã có những đột phá trong các công nghệ giọng nói. Theo lời của Johan Schalkwyk, kỹ sư làm việc tại Google “Ba năm trước, công nghệ của Google chỉ nhận ra được 3 trong 4 từ mà bạn nói ra… bây giờ (2014), ứng dụng của Goolge có thể hiểu được 12 trong số 13 từ”.

Figure 2- Độ chính xác nhận dạng từ trong môi trường ít tiếng ồn (theo Google)

Figure 2- Độ chính xác nhận dạng từ trong môi trường ít tiếng ồn (theo Google)

Có thể nói công nghệ nhận dạng tiếng nói đã bắt đầu đạt ngưỡng đủ tốt để người dùng chấp nhận, không chỉ trên nền tảng của Goolge, mà các hãng công nghệ (và nền tảng của họ) đều đã đạt đươc ngưỡng nhận dạng từ (Word Accuracy Rates) chính xác hơn 90%.

Figure 3- Các công ty có thể định nghĩa về độ chính xác khác nhau

Figure 3- Các công ty có thể định nghĩa về độ chính xác khác nhau

Theo giáo sư Andrew Ng tại trường Standord, một nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới trong lĩnh vực học máy (machine learning, deep learning), thì hai yếu tố chính để việc sử dụng giao diện giọng nói thực sự bùng nổ là hệ thống đạt được độ chính xác trong việc nhân dạng và hiểu ngôn ngữ ở ngưỡng 99%, đồng thời giảm độ trễ (latency) trong việc phản hồi của hệ thống. Các hệ thống giao diện giọng nói đang gần tiến đến ngưỡng này, ví dụ như sản phẩm Amazon Echo, gần đây đã cải thiện được độ trễ từ lúc người dùng ra lệnh cho đến lúc Echo phản hồi từ khoảng 9 giây xuống còn 1,5 giây.

Tương tác giọng nói cho các thiết bị IoT

Giao diện giọng nói (Voice Interface) có thể ứng dụng trong rất nhiều tình huống, tuy vậy, đây là một phương thức rất phù hợp cho các thiết bị IoT, do những yếu tố sau.

Dễ dàng, tiện dụng: Giao diện giọng nói không cần người sử dụng phải bàn phím hay các thiết bị điều khiển cầm tay; phương thức này rất phù hợp để điểu khiển các thiết bị thông minh trong nhà như đèn, TV, quạt…

Chi phí rẻ và gọn nhẹ: Đa số công việc xử lý giọng nói được thực hiện trên hệ thống điện toán đám mây, nên về phía thiết bị chỉ phải trang bị microphone, loa, bộ xử lý cấp thấp. Các linh kiện này ngày càng rẻ do ăn theo dây chuyền sản xuất điện thoại (smartphone supply chain).

Nhanh: Trung bình một người có thể nói 150 từ trong một phút so với gõ được 40 từ qua bàn phím.

Hiểu được văn cảnh: Những tiến bộ gần đây trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) giúp cho hệ thống giao diện giọng nói có thể hiểu được câu hỏi dựa vào văn cảnh tương tác.

FPT chuẩn bị gì cho xu hướng công nghệ này?

Việc sử dụng giao diện giọng nói tăng đột biến trong 2 năm gần đây, theo báo cáo của Baidu thì dịch vụ nhận dạng tiếng Trung của Baidu tăng 4x từ Q2:14, dịch vụ tổng hợp tiếng Trung của họ tăng 26x. Đối với một số ngôn ngữ thì đây là hình thức tương tác ưu việt hơn bàn phím cho việc nhập liệu ngôn ngữ bằng bàn phím hoặc màn hình điện thoại khó khăn hơn nhiều so với các ngôn ngữ dùng bẳng chữ cái Latin.

5-4795-1469500472.png

Tuy có nhiều ưu điểm như trên, để triển khai một hệ thống giao diện giọng nói đòi hỏi nhiều công nghệ liên quan như: công nghệ nhận dạng tiếng nói (Speech Recognition), Công nghệ Tổng hợp Tiếng nói (Text to Speech), Công nghệ Xử lý Ngôn ngữ (Phân tích cú pháp), Trí tuệ nhân tạo (AI), etc. FPT đã và đang đầu tư nghiên cứu vào những lĩnh vực này. Hiện nay, cộng đồng đã có thể sử dụng công nghệ tổng hợp giọng đọc tiếng Việt của Ban Công nghệ tập đoàn quan cổng OpenFPT.vn.

Open FPT là nhắm tới việc thúc đẩy việc chia sẻ, và kết nối các công nghệ và kết quả nghiên cứu của tập đoàn (và các công thành viên) ra ngoài cộng đồng. Cổng dịch vụ công nghệ OpenFPT là một thành tố chính trong chương trình. Thông qua cổng này, các công nghệ trong tập đoàn FPT sẽ được mở ra cho cộng đồng sử dụng dưới dạng API (web services). Các nhà phát triển và cộng đồng có thể khai thác, sáng tạo ra các dịch vụ cho người dùng mà chính FPT cũng không nghĩ tới và làm được. Dù bạn là công ty khởi nghiệp, hay doanh nghiệp, hoặc nhà phát triển độc lập, chúng tôi tin rằng bạn sẽ tìm được những dịch vụ hữu ích từ OpenFPT.

Từ này đến cuối năm 2016, FPT sẽ tiếp tục ra mắt một bộ APIs cho các công nghệ phục vụ cho việc triển khai Giao diện Giọng nói.

Bài đăng trên báo Chungta.

Những ảnh hưởng của IoT tới xã hội

Internet of Things (IoT) là xu hướng công nghệ được các công ty công nghệ hàng đầu thế giới nhắc tới nhiều. IBM có nền tảng và giải pháp IoT trên hệ thốngWatsonBluemix, hệ thống Cloud AWS của Amazon cũng mới ra một bộ giải pháp riêng cho IoT, hệ thống Cloud của Micrsoft cũng có sản phẩm chuyên biệtAzure IoT Hub

Trong bài viết này, ta sẽ tìm hiểu định nghĩa thế nào là IoT, các đặc thù và xu hướng công nghệ dẫn đến IoT, và ảnh hưởng của công nghệ này tới xã hội.

Định nghĩa về Internet of Things 

Thuật ngữ IoT bao hàm nhiều nghĩa tùy vào hoàn cảnh sử dụng và ý đồ của người viết. Tuy vậy, một thiết bị/đồ vật khi được gọi là thiết bị IoT (IoT devices) có những đặc trưng sau:

– Đó là các thiết bị và đồ vật bình thường trong cuộc sống, chúng ta thường không coi chúng là máy tính. Những thiết bị (đồ vật) này có thể là bất cứ thứ gì, ví dụ: tivi, tủ lạnh, máy điều hòa, ô tô… Các thiết bị này nhiều khi đã có các vi điều khiển (microcontroller) và mạch điện tử (như tivi và tủ lạnh, ô tô). Tuy vậy, chúng ta không coi chúng như một máy tính thông thường giống như máy tính để bàn hay laptop.

– Các thiết bị và đồ vật đó khi IoT hóa được bổ sung khả năng tính toán (computational intelligence) từ đó có những tính năng ưu việt. Tủ lạnh thông minh thế hệ mới nhất của Samsung, ngoài việc giúp lưu giữ thức ăn, còn kiểm tra và thông báo cho người dùng khi nào cần phải mua thêm trứng và sữa; hoặc hướng dẫn bạn nấu ăn (qua giọng nói) theo các công thức trên mạng. Để có những tính năng này thì chiếc tủ lạnh được trang bị khả năng tính toán như một máy tính.

Các thiết bị IoT có khả năng kết nối mạng và Internet; khi đó chúng có thể tương tác với nhau, truy cập Internet, và sử dụng các tài nguyên của điện toán đám mây (Cloud). Cũng với ví dụ tủ lạnh thông minh như ở trên, người dùng có thể đi chợ online ngay tại cái tủ lạnh khi thấy thiếu thức ăn. Tủ lạnh thông minh được kết nối Internet sẽ đặt hàng tới các hệ thống bán lẻ như Amazon; sau đó thực phẩm được chuyển tới tận nha gia chủ. Người dùng thậm chí không cần dùng đến tiền mặt vì thẻ tín dụng đã được lưu trong bộ nhớ của tủ lạnh và thanh toán trực tuyến với nhà bán lẻ.

Như vậy, chúng ta có thể thấy một thiết bị/đồ vật được gọi là thiết bị IoT khi nó là một thiết bị chuyên dụng (không phải máy tính nói chung) được trang bị khả năng tính toán để nâng cáo tính năng, và khả năng kết nối mạng như mô tả ở hình sau:

1-5672-1455506926.jpg

Thiết bị IoT

Khi nói đến các thiết bị IoT chúng ta thường thấy nó có những đặc tính:

-Thông minh: Các thiết bị IoT trên thị trường thường hay được gọi là thiết bị thông minh (smart devices). Ví dụ: tủ lạnh thông minh, đèn thông minh, máy giặt thông minh… Các thiết bị giờ được trang bị khả năng tính toán và kết nội mạng sẽ đem lại tính năng ưu việt so với thiết bị truyền thông, và có những tính năng mới mà thiết bị truyền thống không thể có được.

Nest: điều khiển điều hòa thông minh (của Google).

Nest – điều khiển điều hòa thông minh (của Google).

Ví dụ như Nest, thiết bị điều khiển điều hòa thông mình của Google, có khả năng tự học thói quen sử dụng của người dùng, đồng thời kết hợp với thông tin thời tiết, có khả năng tiết kiệm 5% hóa đơn tiền điện cho chủ nhà.

– Cảm biến môi trường: Các thiết bị IoT giờ cũng được trang bị rất nhiều cảm biến (sensors) môi trường khác nhau, chính những thông tin về môi trường xunh quanh này giúp cho thiết bị thông minh hơn. Ví dụ cảm biến chuyển động (motion sensor) có thể truyền thông tin đến hệ thống đèn thông minh để tự động bật tắt khi có người ra vào phòng. Cảm biến mưa sẽ giúp cửa sổ đóng mở theo thời tiết.

– Tương tác với các thiết bị khác: Các thiết bị IoT giờ với khả năng tính toán và kết nối mới có thể tương tác với nhau cục bộ (locally) hoặc qua Internet. Ví dụ, ổ khóa thông minh sẽ đưa thông tin cho hệ thống điểu hòa nhiệt độ về tình trạng đang có người trong căn hộ hay không; từ đó hệ thống điều hòa thông minh có thể điều chỉnh tình trạng tiêu thụ điện để tiết kiệm. Việc các thiết bị tương tác với nhau tạo ra những khả năng mới mà trước đây từng thiết bị không thể làm được.

– Giao diện với điện toán đám mây: Thiết bị IoT hiện tại hoạt động như một cửa ngõ (interface) tới tài nguyên vô tận của điện toán đám mây (Cloud), các tính năng mà người dùng sử dụng không bị giới hạn bởi khả năng của thiết bị nữa. Rất nhiều thiết bị thông minh hiện nay trên thị trường có khả năng điều khiển bằng giọng nói; việc phân tích và hiểu giọng nói của người dùng cần nhiều năng lực tính toán với các thuật toán phức tạm; công việc này giờ được thực hiện ở phía Cloud và trả kết quả lại cho thiết bị qua băng thông rộng (bandwidth).

Ứng dụng khắp mọi nơi: ở nhà, công sở, cá nhân, và công cộng. Apple Watch là điển hình của thiết bị thông minh cá nhân (wearable devices) được bán rộng rãi gần đây. Ứng dụng của công nghệ IoT không chỉ giới hạn cho lĩnh vực nhà thông minh mà chúng ta hay thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ IoT còn được ứng dụng vào các nhà máy xí nghiệpđể nâng cao năng xuất và tối ưu hóa tài nguyên.

Xu hướng công nghệ dẫn tới IoT

Để có được các thiết bị IoT như hiện tại là do hội tụ của nhiều xu hướng công nghệ.

Giá của phần cứng liên tục rẻ đi. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, giá của phần cứng máy tính giảm liên tục trong vào 18 năm qua như theo bảng dưới đây. Một ví dụ gần gũi hơn là năm 1998, chiếc điện thoại Nokia 6160 được bán với giá 900 USD, lúc đó ở Việt Nam là một khoản tiền lớn; năm 2016, giá chiếc điện thoại Nokia 105 chỉ còn 420.000 đồng; bất cứ ai cũng có thể sở hữu.

1-EpK-mYzeNKW6tHIXNT8HTQ_1455507264.png

Kích thước của phần cứng giảm đi rất nhiều. Ngoài việc giá thành giảm, kích thước vật lý của thiết bị (phần cứng) cũng giảm đi rất nhiều. Hiện nay, máy tính Raspberry Pi Zero có kích thước chỉ còn 65 mm x 30 mm x 5 mm, bé hơn cả một tờ 5 USD.

1-Y7xts5ymNK26uyBPIhIaCw_1455507316.png

Khả năng tính toán của máy tính tăng lên nhiều lần. CPU (bộ xử lý trung tâm) của một chiếc iPhone 6, có số lượng transitor nhiều gấp 625 lần chiếc Pentium vào năm 1995 (Intel PC). Hiểu theo một cách thông thường thì thời đại bây giờ, bất cứ ai cũng có một chiếu siêu máy tính (supercomputer) ở ngay trong túi.

Internet truy cập ở khắp mọi nơi. Ở Việt Nam, có thể coi như toàn bộ dân số phủ sóng 3G (tức là truy cập được Internet). Ngay cả tại Trường Sa, nơi hải đảo xa xôi, sóng 3G của Viettel vẫn hoạt động. Trên thế giới, khu vực kém phát triển như Sahara tại Châu Phi thì 20% dân số đã tiếp cận được 3G, và theo báo cáo của Erricson con số này sẽ là hơn 60% vào 2019.

yuyuyu_1455507423.png

Ngoài ra, các chuẩn công nghệ không dây như wifi đã rất thông dụng. Việc này làm giảm giá thành kết nối các thiết bị IoT (trong gia đình cũng như trong công nghiệp).

Giá truy cập băng thông dữ liệu giảm. Ngoài việc tốc độ và độ phủ của băng thông Internet đã liên tục cải thiện, giá thành giảm cũng là một yếu tố giúp khả thi hoá các ứng dụng của công nghệ IoT. Việc hàng nghìn các thiết bị IoT gửi dữ liệu và trao đổi liên tục với hệ thống cơ sở hạ tầng không còn là điều tốn kém nữa.

Ảnh hưởng xã hội

Các thiết bị IoT với những tính năng ưu việt đã giúp đem lại những lợi ích không hề nhỏ đối với cuộc sống. Tuy vậy, việc ứng dụng rộng rãi các thiết bị IoT vào mọi mặt của đời sống cũng đem lại những rủi ro mới.

Các dịch vụ cơ bản hằng ngày của xã hội khi được IoT hóa dẫn đến việc chúng ta bị phụ thuộc quá nhiều vào các hệ thống phức tạp, một lỗi nhỏ trong cả hệ thống này cũng dẫn đến những hậu quả không ngờ. Gần đây, hệ thống điều hòa thông minh Nest bị một lỗi phần mềm khiến thiết bị chết pin nguồn và không hoạt động, trong mùa đông của vùng Bắc Mỹ thì việc hệ thống sưởi không hoạt động là rất nghiêm trọng; ngoài vấn đề sức khỏe của con người, các hệ thống cơ sở hạ tầng như ống nước cũng có thể hỏng khi bị đóng băng. Việc sửa lỗi cho các thiết bị IoT cũng không hề đơn giản, ví dụ như trường hợp của Nest nói trên yêu cầu người dùng phải tháo thiết bị và làm theo nhiều bước phức tạp để nạp lại điện cho thiết bị, nó quá phức tạp với đa số người tiêu dùng.

0-HFoWIGtaDiCmfaz5_1455507577.jpg

Một rủi ro nghiêm trọng khác nữa là rủi ro về bảo mật và an ninh; các thiết bị IoT kết nối là mục tiêu cho các hacker đột nhập và chiếm quyền kiểm soát. Một gia đình ở Mỹ dùng hệ thống IP camera để giám sát trẻ; gia đình này đã rất hoảng sợ khi phát hiện ra hackers đã chiếm quyền kiểm soát của hệ thống này, ngoài việc theo dõi được hình ảnh của gia đình, hackers còn hù dọa đứa trẻ qua giọng nói. Người dùng khi mua những thiết bị IoT thông minh, thường không thể lường trước được những rủi ro như vậy.

Xu hướng công nghệ IoT (Internet of Things) là một xu hướng quan trọng, nó đem lại những thiết bị thông minh và có ảnh hướng tới mọi mặt của đời sống. Thuật ngữ IoT có thể có nhiều nghĩa khác nhau tùy vào tình huống được sử dụng. Tuy vậy, trong bài này chúng ta đưa ra một định nghĩa như thế nào là thiết bị IoT. Công nghệ mới này (IoT) được hình thành do nhiều xu hướng công nghệ khác nhau hội tụ. Áp dụng thiêt bị và công nghệ IoT ngoài việc đem lại những tiện ích và lợi ích rõ rệt, nó cũng mang theo những rủi ro mới về bảo mật, an ninh, quyền riêng tư…

Bài đang trên báo Chúng Ta.

Phát triển sản phẩm theo chiến lược ‘mobile-first’

Tính chất quan trọng của nền tảng mobile đã làm xuất hiện một chiến lược phát triển sản phẩm mới, trong đó, người ta đảo lộn quy trình sản xuất hiện tại và bắt đầu thiết kế, phát triển phiên bản mobile đầu tiên, trước khi tiếp tục phát triển cho các nền tảng khác.

Trong thời đại mobile, smartphone là phương tiện đầu tiên khi mọi người muốn tìm hiểu một thông tin gì đó. Ví dụ: Thời tiết ngày mai mưa hay nắng? Món hàng này mua ở đâu thì rẻ nhất? Tình trạng dự án ra sao rồi? Smartphone đã trở thành vật bất ly thân với rất nhiều người, và người ta dù ở vai trò là người tiêu dùng, hay là nhân viên của một công ty, đều kỳ vọng tìm được thông tin họ muốn qua chiếc điện thoại của mình. Tuy vậy, với rất nhiều sản phẩm/dịch vụ online (digital products/services) thì phiên bản mobile lại luôn được thiết kế và thực hiện sau khi phiên bản web đã hoàn thành.

Chính vì tính chất quan trọng của nền tảng mobile, gần đây xuất hiện một chiến lược phát triển sản phẩm mới gọi là “mobile-first”. Tức là, chúng ta đảo lộn lại quy trình sản xuất hiện tại và bắt đầu thiết kế và phát triển phiên bản mobile đầu tiên, sau đó mới tiếp tục phát triển cho các nền tảng khác như desktop.

Các công ty nên phát triển những ứng dụng/dịch vụ của mình theo chiến lược “mobile-first” này vì mấy lý do. Thứ nhất là nền tảng mobile đang phát triển rất bùng nổ. Nếu một doanh nghiệp không có chiến lược cho nền tảng này, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó không có chiến lược tăng trưởng. Thứ hai là, áp dụng quy trình “mobile-first” khi phát triển sản phẩm/dịch vụ sẽ cho ra sản phẩm chất lượng tốt hơn. Cuối cùng, mobile là nền tảng ưu việt hơn hẳn nền tảng web.

Mobile đã trở thành nền tảng công nghệ lớn nhất mọi thời đại

Công nghệ phát triển rất nhanh và liên tục thay đổi, cứ 10 năm một chúng ta lại chuyển đổi sang một nền tảng mới. Ở thập niên 60 của thế kỷ trước, chúng ta dùng nền tảng công nghệ máy chủ (mainframe), sang thập niên 70 là thời đại của minicomputers, thập niên 90 là thời đại của máy tính cá nhân (PC), thập niên 2000 là thời đại Internet (trên desktop), và hiện nay là thời của mobile (hay nói chính xác hơn là mobile Internet).

Với mỗi chu kỳ công nghệ mới, trung bình sẽ tạo ra số lượng thiết bị gấp 10 lần nền tảng cũ. Ước tính, chúng ta sẽ có hơn 10 tỷ (10B+) thiết bị (mobile) được kết nối Internet. Mobile đã trở thành nền tảng công nghệ lớn nhất trong lịch sử loài người.


Phát triển phiên bản mobile trước tiên sẽ giúp tạo ra sản phẩm tốt hơn
Điều này được phản ánh qua thực tế, doanh thu (revenue) đến từ kênh di động (mobile channel) đã trở thành nguồn thu chính của các hãng công nghệ hàng đầu. Facebook trong báo cáo tài chính quý 1/2015 thông báo rằng, 70% của doanh thu 3,54 tỷ USD đến từ mobile. Google cũng thông báo số lượng tìm kiếm trên mobile giờ đã vượt qua web. Việc không đầu tư đúng mức cho nền tảng mobile sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp bị tụt hậu. Ví dụ điển hình nhất là Microsoft, theo dữ liệu của International Data Corporation (IDC), Windows Phone giờ chỉ chiếm 2,8% trong tổng số đơn vị sản xuất của quý 4/2014.

Thiết bị di động với hạn chế là kích thước màn hình nhỏ tạo ra động lực cho đội ngũ phát triển sản phẩm tập trung vào nhưng dữ liệu (data) và chức năng (functions/actions) quan trọng nhất. Khi diện tích bề mặt nhỏ, thì lượng thông tin có thể trình bày trên màn hình cùng một thời điểm sẽ bị giới hạn. Bởi vậy, thông tin (trên thiết bị di động) phải được trình bày tuần tự (sequentially). Điều này khác với giao diện desktop thông thường, khi các lựa chọn khác nhau thường được bày ra hết trên diện tích màn hình rộng rãi.

Với công nghệ màn hình hiện tại, mật độ điểm ảnh được tăng lên đáng kể, điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng hiển thị hình ảnh là chính. Về diện tích vật lý của màn hình tuy có tăng nhưng sẽ không đáng kể; và đối với thiết bị di động chúng ta luôn gặp giới hạn về số lượng thông tin có thể trình bày vào cùng một màn hình.

Lấy ví dụ từ trang nghe nhạc trực tuyến ở Việt Nam để minh họa, dưới đây là sự khác biệt giữa giao diện mobile và giao diện desktop web của Zing MP3.

Giao diện trên desktop

Giao diện trên desktop web.

Giao diện trên mobile.

Giao diện trên mobile.

Phiên bản di động tâp trung vào một tác vụ chính (chơi nhạc), trong khi đó phiên bản web có rất nhiều tính năng khác nhau được hiện ra cùng một màn hình. Điều đó không có hàm ý là phiên bản web được thiết kế tồi, mà bài học ở đây là thiết kế trên di động ép ta phải tập trung vào những nội dung và tác vụ cơ bản nhất. Khi chúng ta xây dựng và thiết kế một ứng dụng hoặc dịch vụ trên nền di động trước, điều đó sẽ giúp ta cho ra sản phẩm tốt hơn.

Smartphone là nền tảng Internet ưu việt

Mọi người thường hay nghĩ phiên bản di động có giới hạn so với phiên bảng desktop web, và trên desktop web mới có đầy đủ tính năng. Tuy vậy, nhìn nhận một cách khác thì dùng Internet trên di động ưu việt hơn hẳn trên nền desktop web. Trên PC, Internet đồng nghĩa với trình duyệt (browser), chuột và bàn phím; trên mobile, mô hình tương tác phong phú hơn nhiều: iBeacons, push notifications, Touch ID, cameras, customer keyboards…. Smartphone cũng có nhiều thông tin dữ liệu về bạn hơn hẳn nền tảng web: Smartphone biết được bạn của người dùng là ai (contacts), người dùng đang đi bộ hay chạy, ảnh của người dùng, vị trí của người dùng (GPS)…

Chính vì những sự ưu việt đó, nên tảng mobile tạo ra những ứng dụng mà web không thể có. Ví dụ, Yelp, dịch vụ review online, đưa ra ứng dụng Yelp Monocle: “Ứng dụng sử dụng thông tin từ smartphone GPS và la bàn (compass) để hiển thị thông tin Augmented Reality về các quán ăn, nhà hàng rất trực quan”.

Chính vì nền tảng di động đã trở thành điện toán lớn nhất trong lịch sử loài người, smartphone đã trở thành vật bất ly thân gắn liền với đại đa số mọi người, ngoài ra việc phát triển ứng dụng trên mobile trước cũng giúp cho ra sản phẩm tốt hơn, thậm chí nền tảng mobile còn giúp đưa ra những ứng dụng mà nền tảng web không thể có; do vậy các doanh nghiệp cần phải thay đổi tư duy về mobile và áp dụng chiến lược phát triển “mobile first”. Điều này không chỉ còn là lý thuyết mà đã được các tập đoàn lớn áp dụng thành công cho cả các sản phẩm đại chúng (consumer-facing products) và cả các ứng dụng cho doanh nghiệp (business applications).

Bài được đăng trên báo Chungta.

Interaction Design

Present desktop GUIs are a compound of at least two distinct interfaces, a relatively visible and learnable but time-consuming menu-based system and an incomplete keyboard-based collection of hard-to-learn and unmemorable shortcuts. Two wrongs do not make a right.
— Jeff Raskin

Does not seem things have changed much.

On Opa programming language

HTML is a first-class citizen in Opa: it is a predefined data type with special support that allows it to be entered using its usual syntax.

If you are a web framework, then support HTML as a first-class citizen is useful and advantageous. In this case, Opa achieves that by inventing a new programming language. Is there other ways? Right off the top of my head, I would think of Tcl might be an candidate.